TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST Ngày 23 - 6 - 2025 “V/v Ly hôn có yếu tố nước ngoài” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ma Hồng Thắng
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh
- Ông Hoàng Lê Tâm
- - Thư ký phiên toà: Ông Lê Hồng Phong - Thẩm tra viên, Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2025/TLST - HNGĐ, ngày 28 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn có yếu tố nước ngoài”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13/5/2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Kim C, sinh năm 1989; có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang
- * Bị đơn: Anh Lục Văn H, sinh năm 1990.
- Địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
- Chỗ ở hiện tại: Đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan; vắng mặt lần 2;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, Bản tự khai nguyên đơn chị Đinh Thị Kim C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2011, chị C và anh Lục Văn H qua tự do tìm hiểu, đã được gia đình 2 bên tổ chức cưới xin theo phong tục tập quán, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 22/7/2011 tại UBND xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (Giấy chứng nhận kết hôn số 28, quyển số 02). Sau khi kết hôn, 2 vợ chồng sinh sống với gia đình bố mẹ đẻ của anh H Thôn G, xã H, huyện C. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Đến năm 2018 chị C và anh Lục Văn H đều đi xuất khẩu lao động xuất tại nước Đài Loan, mỗi người ở một nơi, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, bất đồng trong làm ăn kinh tế, kinh tế độc lập, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay đã được khoảng 7 năm không còn quan hệ tình cảm vợ chồng. Hiện nay chị C đã về Việt Nam, còn anh Lục Văn H bỏ ra ngoài lao động tự do nên hiện nay tôi không biết địa chỉ của anh H, chỉ biết vẫn đang ở Đài Loan. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống được với nhau nữa, thực tế chị C đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, chị Đinh Thị Kim C đề nghị Tòa án cho chị C được ly hôn với anh Lục Văn H.
- Về con chung: chị C và anh Lục Văn H có 02 người con chung là Lục Minh B, sinh ngày 04/02/2012 và Lục Nhã U, sinh ngày 27/4/2016. Khi ly hôn, chị C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: chị Đinh Thị Kim C và anh Lục Văn H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về vay nợ chung: chị Đinh Thị Kim C và anh Lục Văn H không vay nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lục Văn H đang sinh sống ở Đài Loan nhưng không rõ địa chỉ:
Tòa án tiến hành niêm yết tại nơi Đăng ký nhân khẩu thường trú của nguyên đơn và bị đơn, nơi người thân thích của anh Lục Văn H cư trú và tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Lục Văn H thông qua bà Ma Thị T (là mẹ đẻ của anh H); Trú tại: thôn G, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
Đồng thời, Tòa án tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ:
Tại Công văn số 231/QLXNC-Đ1 ngày 04/3 /2025 của Phòng Q Công an tỉnh T có thông tin: anh Lục Văn H, sinh ngày 24/02/1990; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn G, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang đã sử dụng Hộ chiếu số C4986833 xuất cảnh ngày 05/11/2018 tại Sân bay quốc tế N, hiện chưa nhập cảnh lại Việt Nam. Như vậy qua thu thập thông tin, tài liệu xác định anh Lục Văn H hiện nay đang sinh sống ở nước ngoài. Vì vậy, việc giải quyết ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại biên bản xác minh với bà Ma Thị T là mẹ đẻ của anh H:
Anh Lục Văn H và chị Đinh Thị Kim C tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn chị Đinh Thị Kim C và anh Lục Văn H về sinh sống với gia đình bà T, đến năm 2018 thì anh Lục Văn H đi lao động xuất khẩu tại Đài Loan, anh H bỏ ra ngoài lao động tự do nên hiện nay chị C và gia đình không biết địa chỉ của anh Lục Văn H chỉ biết vẫn đang ở Đài Loan, không có mặt tại địa phương, còn chị C sinh sống và làm ăn tại địa phương, anh Lục Văn H vẫn thường xuyên gọi điện về cho gia đình qua Z, M. Nguyên nhân mâu thuẫn của hai vợ chồng anh Lục Văn H bà không biết, chị C yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang giải quyết ly hôn với anh Lục Văn H, bà T đã thông tin cho anh H biết.
Về con chung: Chị Đinh Thị Kim C và anh Lục Văn H có 02 con chung là Lục Minh B, sinh ngày 04/02/2012 và Lục Nhã U, sinh ngày 27/4/2016, hiện đang sinh sống cùng chị C, khi ly hôn chị C đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh Lục Văn H cấp dưỡng nuôi con chung, bà đã thông tin cho anh H biết.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Bà T xác nhận, chị C và anh H không có tài sản chung và không có vay nợ chung.
Nay chị Đinh Thị Kim C nộp đơn xin ly hôn với anh Lục Văn H, bà Ma Thị T cam đoan sẽ thông báo bằng cách gọi điện thoại qua Z, M nhắn tin cho anh H biết.
Tại bản tự khai của 02 con chung trên 07 tuổi là cháu Lục Minh B và cháu Lục Nhã U có mong muốn được ở với mẹ (Chị C).
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần thông báo, triệu tập, niêm yết văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, nhưng bị đơn Lục Văn H đều không đến Tòa án làm việc, cũng như không có văn bản trình bày về ý kiến của mình về việc chị C xin ly hôn, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được cho anh H và chị C theo quy định.
Về tài liệu, chứng cứ nguyên đơn chị C cung cấp cho Tòa án có lưu trong hồ sơ vụ án. Bị đơn anh H không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì.
Chị C vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt xin giữ nguyên lời khai không có ý gì kiến gì khác.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định.
Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2, khoản 4 Điều 207; các Điều 228, 238, 266, 271, 273; Điều 469; khoản 1 Điều 470, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị C, xử cho chị Đinh Thị Kim C được ly hôn với anh Lục Văn H.
Về con chung: Giao cho chị Đinh Thị Kim C trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Lục Minh B, sinh ngày 04/02/2012 và Lục Nhã U, sinh ngày 27/4/2016. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung sau ly hôn.
Về tài sản chung, vay nợ chung: chị Đinh Thị Kim C không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét nội dung này.
Về án phí sơ thẩm: Chị Định Thị Kim C1 phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị Kim C và anh Lục Văn H được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa hai bên đương sự là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 38 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Chị C có đơn xin ly hôn với anh H; cả hai anh chị đều có quốc tịch Việt Nam nhưng hiện tại anh H đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Vì vậy, việc giải quyết ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự:
Anh H hiện đang ở nước ngoài, không rõ địa chỉ cụ thể nhưng gia đình xác nhận anh vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình thông qua điện thoại. Tòa án đã tiến hành niêm yết và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H thông qua bà Ma Thị T (mẹ đẻ anh H) Chị Đinh Thị Kim C đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị C. Toà án tiến hành xác minh hai lần với người thân thích của anh H (Bà T – mẹ anh H) nhưng vẫn không cung cấp được địa chỉ của anh H tại nước ngoài và đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định. Anh Lục Văn H vắng mặt tại phiên toà, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh H là đúng quy định.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Kim C:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Lời khai của chị C phù hợp với ý kiến trình bày của bà T (mẹ đẻ anh H) và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân giữa chị C, anh H có mâu thuẫn, không quan tâm tới nhau, đã sống ly thân nhiều năm, mâu thuẫn đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị C, xử cho chị Đinh Thị Kim C được ly hôn với anh Lục Văn H.
[3.2] Về con chung: Chị Đinh Thị Kim C và anh Lục Văn H có 02 người con chung là Lục Minh B, sinh ngày 04/02/2012 và Lục Nhã U, sinh ngày 27/4/2016. Chị C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Lời khai của con chung trên 07 tuổi là cháu Lục Minh B và cháu Lục Nhã U có mong muốn được ở với mẹ (Chị C). Do vậy. cần giao cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung sau ly hôn.
[3.3] Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có
[4] Về án phí: Chị Đinh Thị Kim C phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Lục Văn H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 179; Điều 207; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271; Điều 273; khoản 1 Điều 469; khoản 1 Điều 470; khoản 1, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Đinh Thị Kim C; Xử cho chị Đinh Thị Kim C được ly hôn với anh Lục Văn H (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 28, quyển số 02 ngày 22/7/2011 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang);
- Về con chung: Giao cho chị Đinh Thị Kim C trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Lục Minh B, sinh ngày 04/02/2012 và Lục Nhã U, sinh ngày 27/4/2016, anh Lục Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung sau ly hôn.
- Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có và không xem xét giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Đinh Thị Kim C phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị C đã nộp là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số [...] ngày 28/3/2025 và biên lai số 15 Ký hiệu: BLTU/25 ngày 11/4/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang. Chị Đinh Thị Kim C đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. Anh Lục Văn H không phải chịu án phí.
- Về quyền kháng cáo: Anh Lục Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01(một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai, chị C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Hồng Thắng |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về ly hôn có yếu tố nước ngoài
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn có yếu tố nước ngoài
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đinh Thị Kim Ch khởi kiện xin ly hôn với anh Lục Văn Hoàn...
