TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21-3-2025.
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Thoa;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Văn Cang;
Ông Lương Công Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Đức Duy, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 305/2024/TLST-HNGĐ, ngày 02/10/2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Minh T, sinh năm 1992; cư trú tại: số C N, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
2. Bị đơn: Anh Trần L, sinh năm 1990; cư trú tại: số C P, Phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Võ Thị Minh T trình bày:
Chị và anh Trần L tự nguyện tìm hiểu và kết hôn năm 2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì đến cuối 2018, chị phát hiện anh L có sử dụng ma túy; chị cùng gia đình đã nhiều lần động viên anh L bỏ ma túy nhưng anh không nghe. Vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều tranh cãi, mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, anh L không cùng chị làm ăn và chăm sóc con. Do chị sinh con nhỏ nên cố gắng cho anh L nhiều cơ hội nhưng anh vẫn không thay đổi làm ảnh hưởng đến việc nuôi dạy con. Hiện nay anh L bị đưa đi cai nghiện ma tuý, chị đã chuyển đi nơi khác ở. Nay chị thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên kiên quyết yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
Về con chung: có hai con chung là Trần Gia L1, sinh ngày 11/3/2018 và Trần Gia L2, sinh ngày 08/5/2024, hiện nay hai con đang sống cùng chị. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Tại Đơn trình bày ngày 11/10/2024 và Bản tự khai ngày 01/11/2024, bị đơn anh Trần L trình bày: Vợ chồng kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên vào năm 2017. Trước đây, anh có đi làm và mang tiền về phụ giúp gia đình nhưng đến tháng 7/2024, anh xin nghỉ để ở nhà phụ giúp vợ bán hàng. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng có bất đồng quan điểm, sau những tranh cãi, anh buồn chán và bị bạn bè lôi kéo nên có sử dụng ma tuý. Từ lúc anh đi cai nghiện đến nay, chị T không dẫn con đến thăm anh và chị T cũng dọn hết hàng hoá, vật dụng trong nhà là tài sản chung của vợ chồng đi nơi khác. Trước khi anh đi cai nghiện ma tuý thì vợ chồng chưa nói rõ việc ly hôn và anh còn thương vợ nên anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung: có hai con chung như chị T trình bày. Do anh không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Võ Thị Minh T và bị đơn anh Trần Lâm kết H với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, nguyên đơn và bị đơn xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, nay nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn.
Xét thấy, nguyên đơn và bị đơn thường xảy ra mâu thuẫn, không còn sống chung với nhau từ khoảng tháng 8/2024 đến nay do bị đơn phải chấp hành Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Toà án, không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau dẫn đến hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.
[3] Về nuôi con chung: Nguyên đơn và bị đơn có hai con chung là Trần Gia L1, sinh ngày 11/3/2018 và Trần Gia L2, sinh ngày 08/5/2024; các con hiện nay đang ở với nguyên đơn. Ly hôn, nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con là phù hợp và đúng quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao hai con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Võ Thị Minh T được ly hôn với anh Trần Lâm .
- Về nuôi con chung: Giao hai con Trần Gia L1, sinh ngày 11/3/2018 và Trần Gia L2, sinh ngày 08/5/2024 cho nguyên đơn chị Võ Thị Minh T trực tiếp nuôi dưỡng; bị đơn anh Trần L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn chị Võ Thị Minh T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại Biên lai số 0002776 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.
Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Khánh Thoa |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T yêu cầu ly hôn với anh L và giải quyết việc nuôi con chung
