TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST
Ngày 21-3-2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Thành và bà Bùi Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Luyện - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 21/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 14/2025/TLST-HNGĐ ngày 22/01/2025 về tranh chấp: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Anh Lê Việt K, sinh năm 1986; vắng mặt.
Quê quán: Ấp G, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Nơi thường trú: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Nơi ở hiện tại: Hộ ông Huỳnh Văn P, địa chỉ: Ấp D, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị H, bị đơn anh K đều trình bày: Anh, chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 30/7/2007 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp tính nết, đồng thời đã sống ly thân và bỏ mặc nhau. Nay xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H xin ly hôn, anh K đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh, chị có hai con là Lê Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 20/10/2008; Lê Nguyễn Tuấn T, sinh ngày 26/9/2011, hiện tại do chị H nuôi dưỡng.
Khi ly hôn, chị H, anh K thống nhất, chị H tiếp tục nuôi dưỡng các con, tự nguyện không yêu cầu anh K cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản, công sức, nợ: Chị H, anh K không yêu cầu giải quyết.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Khi còn chung sống hai bên đương sự có xảy ra mâu thuẫn, đến nay đã trầm trọng; nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp tính nết mặc dù đã được gia đình, chính quyền động viên, khuyên bảo. Nay các bên đương sự tranh chấp về việc ly hôn, nuôi con, chính quyền địa phương đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị áp dụng: Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị, xử: Chị H ly hôn anh K; giao các con cho chị H nuôi dưỡng; chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử, nhận định.
- Về thủ tục tố tụng: Người tham gia tố tụng đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H, anh K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 30/7/2007 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai bên đương sự có phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, khác biệt văn hoá vùng, miền dẫn tới tình cảm vợ chồng ngày một lạnh nhạt và đã sống ly thân, bỏ mặc nhau. Quá trình giải quyết vụ án, hai bên đương sự đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, đều đồng ý ly hôn. Như vậy, từ những căn cứ như đã nêu ở trên, chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa các bên đương sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của đương sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xử chị H ly hôn anh K.
- Về quan hệ con chung: Xác định chị H, anh K có hai con là Lê Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 20/10/2008; Lê Nguyễn Tuấn T, sinh ngày 26/9/2011; hiện tại do chị H nuôi dưỡng. Nay các bên đương sự ly hôn, việc giao cho ai nuôi dưỡng phải xuất phát từ lợi ích về mọi mặt của con và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của mỗi bên đương sự. Xét cháu A, T đã trên 07 tuổi, có nguyện vọng được ở với mẹ là chị H; đồng thời từ khi các bên đương sự sống ly thân, các cháu A, T do chị H nuôi dưỡng và sinh sống, học tập ổn định tại xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương. Như vậy, từ những căn cứ như đã nêu ở trên cần chấp nhận quan điểm của đương sự, đề nghị của đại diện của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử giao các con chung cho chị H nuôi dưỡng; đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng tiền nuôi con; anh K có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản trở như theo các quy định tại Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về quan hệ tài sản, nợ, công sức: Đương sự không đề nghị giải quyết, nên HĐXX không phải đặt ra để giải quyết.
- Về án phí: Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị H phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Các Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Lê Việt K.
- Về quan hệ con chung: Giao con Lê Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 20/10/2008; Lê Nguyễn Tuấn T, sinh ngày 26/9/2011 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị H tự nguyện không yêu cầu anh Lê Việt K cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Lê Việt K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001909 ngày 21/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Tuân |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Huyền - Lê Việt Khoa
