|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ *** |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11/3/2025
V/v tranh chấp: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tăng Tài Thủ
- Bà Huỳnh Thị Mỹ Nhung
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn – là Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viên kiểm sát nhân dân quận T – thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều O – kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án Nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 212/2024/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị N – sinh năm: 1979 (xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Trần Tấn Đ – sinh năm: 1982 (xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: khu vực Đ, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Trước đây bà N và ông Trần Tấn Đ do được mai mối và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T ngày 16/9/2009. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian gần đây giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, từ đó giữa vợ chồng thường hay cãi nhau làm cho hạnh phúc gia đình bị đỗ vỡ, không thể hàn gắn lại được và cuộc sống chung không thể kéo dài được nữa. Nay bà N xác định không còn tình cảm, không thể tiếp tục sống chung nên yêu cầu xin ly hôn với ông Đ.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Trần Thanh T – sinh ngày 23/9/2001 và Trần Duy K – sinh ngày 30/9/2009. Đối với cháu T đã đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. Bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông, bà tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết
Về nợ chung: Bà N xác định không có.
Đối với bị đơn ông Trần Tấn Đ: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Đ không đến Tòa để tham gia hòa giải, giải quyết vụ án. Vào ngày 07/01/2025, Tòa án có trực tiếp đến nhà ông Đ để ghi lời khai như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Đ thống nhất theo lời trình bày của bà N. Nay ông đồng ý thuận tình ly hôn tuy nhiên do bận công việc làm ăn nên không đến Tòa để tham gia hòa giải được.
Về con chung: Có 02 con chung là Trần Thanh T – sinh ngày 23/9/2001 và Trần Duy K – sinh ngày 30/9/2009. Đối với cháu T đã đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. Đối với cháu K, ông đồng ý giao cho bà N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông, bà tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết
Về nợ chung: Ông Đ xác định không có.
Do bị đơn ông Đ không đến Tòa để tham gia hòa giải, vụ án không tiến hành hòa giải được nên được đưa ra xét xử công khai.
Tại phiên toà hôm nay: Cả nguyên đơn và bị đơn đều có đơn yêu cầu giải quyết xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên toà của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự là đúng theo quy định pháp luật. Đồng thời, phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho bà Lê Thị N được ly hôn với ông Trần Tấn Đ.
Về con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Duy K cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Đương sự tự thỏa thuận.
Về nợ chung: Ông, bà xác định không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại quận T nên đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp về việc “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Xét việc các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, cả nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà N và ông Đ là phù hợp.
[3] Xét về quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông Đ có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định, trong quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi, không tìm được tiếng nói chung do bất đồng quan điểm sống. Cả hai không tìm được biện pháp hàn gắn tình cảm nên dẫn đến việc bà N nộp đơn xin được ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà N và ông Đ đến Tòa để động viên, hòa giải nhưng ông Đ không đến Tòa để tham gia hòa giải, qua làm việc lấy lời khai ngày 07/01/2025 thì ông Đ cũng thống nhất đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà N. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng là trầm trọng, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân thì cũng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho bà N được ly hôn với ông Đ là phù hợp.
[4] Về con chung: bà N và ông Đ xác định có 02 con chung là Trần Thanh T – sinh ngày 23/9/2001 và Trần Duy K – sinh ngày 30/9/2009. Đối với cháu T đã đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết. Đối với cháu K, ý kiến bà N và ông Đ thống nhất giao cho bà N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy thỏa thuận của ông, bà là phù hợp, đúng theo nguyện vọng của cháu K, nghĩ nên công nhận. Về việc cấp dưỡng nuôi con, do bà N xác định có đủ khả năng nuôi con, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Ông, bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về nợ chung: Ông, bà xác định không có.
[7] Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà N phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Các Điều 28, 35, 39, 147, 228 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân & gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận cho bà Lê Thị N được ly hôn với ông Trần Tấn Đ.
Về con chung:
Ông, bà 02 con chung là Trần Thanh T- sinh ngày 23/9/2001 và Trần Duy K – sinh ngày 30/9/2009. Khi ly hôn, tiếp tục giao cháu Trần Duy K cho bà Lê Thị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Đ, không ai có quyền cản trở. Ông Đ và bà N có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con vì lợi ích của con theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung:
Ông, bà tự thỏa thuận.
Về nợ chung:
không có.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Lê Thị N phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005769 ngày 06/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt (công nhận đã nộp xong án phí).
Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quyền và nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa NGUYỄN TRUNG HIẾU |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – THÀNH PHỐ CẦN THƠ về ly hôn
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử vắng mặt bị đơn
