Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK GLONG

TỈNH ĐẮK NÔNG

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày 20-6-2025

V/v Ly hôn, nuôi con chung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: bà Lê Thị Hồng Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Hữu Tỷ và ông Phạm Xuân Đức

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong.

- Đại diện VKSND huyện Đắk Glong tham gia phiên toà: ông Nguyễn Anh V - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 163/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/12/2024 về việc “Ly hôn và nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn M sinh năm 1985; địa chỉ: thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – có mặt.

2. Bị đơn: chị Nguyễn Thị H sinh năm 1996; địa chỉ: thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Văn M trình bày: anh và Chị H1 chung sống với nhau có đăng ký kết tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông năm 2014; thời gian đầu hạnh phúc, lâu dần phát sinh mâu thuẫn giữa vợ chồng và có lần chị H1 là con dâu đã đánh mẹ chồng chảy máu đầu; mặc dù đã nhiều lần hoà giải nhưng không thành; hai bên cũng đã ly thân; nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị H1.

Về con chung: có 03 con chung là cháu Nguyễn Minh Đ sinh ngày 11-7-2012, cháu Nguyễn Thị Bảo L sinh ngày 15-11-2013 và cháu Nguyễn Thị Bảo A sinh ngày 29-3-2019, anh M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng; không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Thị H:

quá trình giải quyết vụ án không tham gia các buổi làm việc, phiên họp phiên. Toà án đã tống đạt trực tiếp cho chị H các văn bản tố tụng, chị H nhận các văn và không trình bày ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đúng quy định; bị đơn không chấp hành. Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; anh M được ly hôn với chị H; giao 03 con chung Nguyễn Minh Đ sinh ngày 11-7-2012, Nguyễn Thị Bảo L sinh ngày 15-11-2013 và Nguyễn Thị Bảo A sinh ngày 29-3-2019 cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung và cấp dưỡng nuôi con, đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: anh M và chị H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn; anh M yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với chị H nên quan hệ pháp luật là tranh chấp về "Ly hôn, nuôi con chung "; chị H trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: anh M và chị Nguyễn Thị H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn ngày 21-7-2014 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông là hợp pháp và có thật. Xét thấy, anh M và chị H đã ly thân với nhau, cuộc sống chung không hòa hợp, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh M về việc ly hôn với chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh M có nguyện vọng nuôi 03 con chung là cháu Nguyễn Minh Đ sinh ngày 11-7-2012, cháu Nguyễn Thị Bảo L sinh ngày 15-11-2013 và cháu Nguyễn Thị Bảo A sinh ngày 29-3-2019; quá trình giải quyết vụ án các cháu Nguyễn Minh Đ có nguyện vọng ở cùng với bố; cháu Nguyễn Thị Bảo L có nguyện vọng ở cùng với mẹ; tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, chị H không phối hợp làm việc, không tham gia phiên họp, phiên tòa, không ghi nhận ý kiến của chị H nên không có căn cứ để giao cháu L cho chị H nuôi dưỡng. Vì vậy, việc giao 03 con chung cho anh M nuôi dưỡng là cần thiết và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung và cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

[3] Về án phí: nguyên đơn phải chịu án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84, 85 và Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28. Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 243, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn M.

Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Văn M được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: giao các con Nguyễn Minh Đ sinh ngày 11-7-2012, Nguyễn Thị Bảo L sinh ngày 15-11-2013 và Nguyễn Thị Bảo A sinh ngày 29-3-2019 cho anh Nguyễn Văn M trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí: anh Nguyễn Văn M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008690, ngày 10/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Đắk Glong;
  • - Chi cục THADS huyện Đắk Glong;
  • - UBND xã Đắk Ha, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông (nơi ĐKKH);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Hồng Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger