TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HNGĐ – ST
Ngày: 19/8/2025
V/v “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Huệ
- Ông Điểu Khuê
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Mạnh Hùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Dương Hoài Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 06/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- -Nguyên đơn: anh Trần Văn T, sinh năm: 1988
- - Bị đơn: chị Phạm Thị Thanh T1, sinh năm 1988
- Cùng địa chỉ: Thôn E, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (Hiện nay là thôn E, xã Đ, tỉnh Đồng Nai)
- (Nguyên đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 27/11/2024 và trong quá trình thụ lý vụ án, nguyên đơn anh Trần Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và chị Phạm Thị Thanh T1 tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước vào ngày 01/4/2014. Trong thời gian chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mỗi người một tính cách, phong tục tập quán khác nhau, mâu thuẫn trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống, anh yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với chị Phạm Thị Thanh T1.
Về con chung: Anh và chị T1 có hai người con chung, họ tên là Trần Đại Q sinh ngày 04/12/2018 và Trần Trọng V sinh ngày 28/10/2013. Anh yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Trần Đại Q sinh ngày 04/12/2018 và Trần Trọng V sinh ngày 28/10/2013.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản và nợ: Không có. Không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn chị Phạm Thị Thanh T1 vắng mặt trong toàn bộ quá trình Toà án giải quyết vụ án.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai: Về tố tụng: Thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh T, anh T được ly hôn với chị T1; về con chung: Giao cháu Trần Đại Q sinh ngày 04/12/2018 và Trần Trọng V sinh ngày 28/10/2013 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Đương sự nộp theo quy định pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Theo đơn khởi kiện của anh Trần Văn T yêu cầu được ly hôn với chị Phạm Thị Thanh T1 có nơi cư trú tại thôn E, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (Hiện nay là thôn E, xã Đ, tỉnh Đồng Nai; anh T và chị T1 chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn. Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai.
Bị đơn chị Phạm Thị Thanh T1 đã được triệu tập, tống đạt niêm yết công khai các văn bản tố tụng và thông báo tìm kiếm người vắng mặt trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật nhưng chị T1 vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh T yêu cầu ly hôn với chị T1, Hội đồng xét xử xét thấy:
Anh T và chị Thuý nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước vào ngày 01/4/2014 theo quy định pháp luật. Trong thời gian chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, dẫn đến hôn nhân không đạt được mục đích, chị T1 đã bỏ nhà đi thời gian đã lâu, không liên lạc với gia đình cũng không quan tâm lo lắng cho đời sống hôn nhân, anh chị đã có sự vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng. Đối chiếu với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, xét thấy hôn nhân giữa anh T và chị T1 lâm vào tình trạng trầm trọng, hôn nhân không đạt được mục đích, nay anh T yêu cầu ly hôn với chị T1, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của anh T là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[3] Về con chung: anh T và chị T1 có 02 người con chung, họ tên là Trần Đại Q sinh ngày 04/12/2018 và Trần Trọng V sinh ngày 28/10/2013. Căn cứ lời khai cháu V có nguyện vọng được ở với bố là anh T; cháu Q đang ở với anh T. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định cho các cháu nên cần giao cháu V và cháu Q cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
[4]Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Đương sự phải chịu theo luật định.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai là phù hợp quy định pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Các Điều 81,82,83,84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 131 Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15.
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Văn T. Anh Trần Văn T được ly hôn với chị Phạm Thị Thanh T1.
(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 08/2014, quyển số 01/2013, đăng ký ngày 01/4/2014 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (hiện nay là xã Đ, tỉnh Đồng Nai)
- Về con chung: Giao cháu Trần Đại Q sinh ngày 04/12/2018 và Trần Trọng V sinh ngày 28/10/2013 cho anh Trần Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom hoặc cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn anh Trần Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp trước là 300.000 đồng (Biên lai thu tiền số 0009567, ngày 07/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước).
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
| Trần Huệ | Trần Thị Thu Hà |
| Điểu Khuê |
Bản án số 20/2025/HNGĐ – ST ngày 19/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI về ly hôn
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
