|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST Ngày 18-3-2025 V/v xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quang Huy
- Ông Lê Văn Ninh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh Chi, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nhung, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 523/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc Xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y; địa chỉ: Xóm N, xã V, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
Bị đơn: Anh Hoàng Hải Đ; địa chỉ: X, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
(Nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y trình bày:
Về quan hệ vợ chồng: Chị kết hôn với anh Đ năm 2013, trước khi kết hôn được tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại gia đình chồng tại xóm X, xã Đ, thành phố T. Vợ chồng sống hạnh phúc trong những năm đầu. Mâu thuẫn xảy ra do anh Đ mải chơi, thích tụ tập, ham cờ bạc, rượu chè dẫn đến nợ nần, không quan tâm tới vợ con. Mặc dù hai bên đã cố gắng, gia đình đã can thiệp nhưng vợ chồng không thể hàn gắn. Đến đầu năm 2021 vợ chồng sống ly thân. Chị xác định hiện tại không còn tình cảm với anh Đ, vợ chồng không còn sống chung, không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Vợ chồng 02 con chung là Hoàng Quỳnh C, sinh ngày 24/12/2013 và Hoàng Duy K, sinh ngày 02/9/2016; hiện hai con đang cùng ở với mẹ là chị Y. Chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai bị đơn anh Hoàng Hải Đ trình bày:
Về quan hệ vợ chồng: Anh và chị Y kết hôn năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, thành phố T, việc kết hôn là tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng bố mẹ ở xóm X, xã Đ, thành phố T. Vợ chồng sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn. Chỉ đến khi vợ anh nộp đơn ly hôn thì vợ chồng ít nói chuyện, quan tâm và chia sẻ với nhau hơn, ngoài ra không có mâu thuẫn gì khác. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2024. Nay chị Y xin ly hôn anh không đồng ý vì anh thấy vợ chồng không có mâu thuẫn gì, anh vẫn có tình cảm với vợ, mong vợ chồng hàn gắn để nuôi dạy con.
Về con chung: Vợ chồng 02 con chung là Hoàng Quỳnh C, sinh ngày 24/12/2013 và Hoàng Duy K, sinh ngày 02/9/2016; trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi 01 con là Hoàng Duy K và không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, do các bên không thoả thuận được về việc giải quyết vụ án nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa công khai.
Tại phiên tòa,
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 51, 52, 56, 81, 82, và điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Y xin ly hôn anh Hoàng Hải Đ, cho chị Y được ly hôn anh Đ. Về con chung: Giao con Hoàng Quỳnh C, sinh ngày 24/12/2013 và Hoàng Duy K, sinh ngày 02/9/2016 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.Về án phí: Chị Y chịu án phí và các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, bị đơn anh Hoàng Hải Đ có nơi cư trú tại xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Hoàng Hải Đ nhưng anh Đ vẫn vắng mặt không có lý do; căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
2.1. Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y và anh Hoàng H Đang kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 02 ngày 11/01/2013 của Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên); vì vậy được xác định là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, chị Y xác định mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do anh Đ mải chơi, thích tụ tập, ham cờ bạc rượu chè dẫn đến nợ nần, không quan tâm tới vợ con, dẫn tới chị không còn tình cảm, vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Anh Đ xác định vợ chồng không có mâu thuẫn, vợ chồng ít quan tâm, chia sẻ, nói chuyện với nhau hơn từ khi chị Y nộp đơn ly hôn, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2024, anh xác định còn tình cảm và không nhất trí ly hôn.
Tại Biên bản làm việc ngày 06/01/2025 tại gia đình anh Hoàng Hải Đ (địa chỉ: xóm X, xã Đ, thành phố T), ông Hoàng Xuân N là bố đẻ của anh Đ cung cấp: Anh Đ và chị Y kết hôn năm 2012 (Âm lịch), có tổ chức lễ cưới, có tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh Đ có sinh sống tại gia đình ông đến năm 2019, chị Y cùng hai cháu nội của ông là Hoàng Quỳnh C và Hoàng Duy K về ở trên đất của ông bà ngoại ở P để thuận tiện cho việc đưa đón và dạy dỗ con học, do chị Y làm giáo viên và nơi chị Y ở ngay gần trường học của các cháu. Mâu thuận của vợ chồng chị Y, anh Đ phát sinh khoảng hơn 01 năm nay do anh Đ mải chơi, không chăm lo cho gia đình, về không có tiền đưa cho vợ con sinh hoạt chi tiêu. Chị Y cũng khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Đ không thay đổi. Thỉnh thoảng chị Y vẫn đưa các cháu về thăm ông bà nhưng chị Y và anh Đ không nói chuyện với nhau. Gia đình ông và chị Y không có mâu thuẫn gì, ông vẫn mong chị Y và anh Đ trở về đoàn tụ để nuôi dạy con. Hiện anh Đ đi làm tự do ở nhiều nơi, thỉnh thoảng có về nhà, có lúc 1 tháng, có lúc 2 – 3 ngày về. Việc chị Y, anh Đ ly hôn là do hai con tự quyết định, ông không có ý kiến gì.
Do mâu thuẫn vợ chồng chị Y, anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Y, cho chị Y được ly hôn với anh Đ là phù hợp với thực tế và quy định pháp luật.
2.2. Con chung:
Vợ chồng có 02 con chung là Hoàng Quỳnh C, sinh ngày 24/12/2013 và Hoàng Duy K, sinh ngày 02/9/2016. Tại văn bản ghi ý kiến, các cháu đều có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Quá trình giải quyết vụ án, chị Y có yêu cầu nuôi cả hai con, có nộp bảng thanh toán tiền lương và các khoản phụ cấp có xác nhận của trường mầm non T, thành phố P xác nhận lương của chị Y là 10.759.402đ, chị Y không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Đ có yêu cầu nuôi con Hoàng Duy K và không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con chung.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Cháu Hoàng Quỳnh C đang ở độ tuổi thay đổi nhiều về tâm sinh lý, cần giao cho mẹ là chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đảm bảo cho sự phát triển của cháu. Hiện cả hai cháu C và cháu K đang ở với nhau và cùng với mẹ là chị Y. Chị Y có nghề nghiệp là giáo viên và thu nhập ổn định, nơi ở gần trường. Anh Đ không có nghề nghiệp ổn định, thường xuyên không có mặt tại ơi cư trú. Để đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con, nguyện vọng của 02 con được ở cùng với mẹ và ở cùng chị em để đảm bảo ổn định tâm lý và tình cảm của con, cần giao cả hai con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định.
Chị Y, anh Đ không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
2.3. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[3] Án phí: Chị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 264 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Y xin ly hôn anh Hoàng Hải Đ.
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 52, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Hoàng Hải Đ.
- Về con chung: Giao con Hoàng Quỳnh C, sinh ngày 24/12/2013 và Hoàng Duy K, sinh ngày 02/9/2016 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Đ có quyền đi lại thăm nom con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp biên lai thu số 0003190 ngày 02/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên
- Quyền kháng cáo: Thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với chị Y, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với anh Đ.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Quang Huy – Lê Văn Ninh |
Phạm Ngọc Linh |
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Phạm Ngọc Linh
Nơi nhận:
- - VKSND TPTN;
- - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- - Chi cục THA TPTN;
- - TAND tỉnh Thái Nguyên;
- - UBND xã Phúc Trìu, TPTN;
- - Các đương sự;
- - Lưu: Hồ sơ; VP, TK, TP.
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên về xin ly hôn
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
