TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST Ngày 17/3/2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Phương Dung;
Ông Kim Niệm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 402/2024/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1985; địa chỉ: Số A, tổ A, ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
- - Bị đơn: Ông Lê Thanh H1, sinh năm 1980; địa chỉ: Số A, tổ A, ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H trình bày:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Minh H và ông Lê Thanh H1 chung sống với nhau từ năm 2004, trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu có hạnh phúc nhưng sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, không có tiếng nói chung, ông bà đã sống ly thân với nhau. Xét thấy, mâu thuẫn gia đình đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn nên bà H xin ly hôn với ông Lê Thanh H1.
Về con chung: Trong quá trình chung sống ông bà có 02 con chung là Lê Thanh H2, sinh ngày 18/10/2005 và Lê Thanh H3, sinh ngày 14/12/2010. Con chung Lê Thanh H2 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà H tôn trọng quyền quyết định của con chung tên Lê Thanh H3. Con H3 có nguyện vọng sống cùng với bà H, bà H đồng ý nuôi con và không yêu cầu ông H1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai bị đơn ông Lê Thanh H1 trình bày:
Về hôn nhân: Ông Lê Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Minh H chung sống với nhau từ năm 2004, trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Cuộc sống vợ chồng trong thời gian đầu có hạnh phúc nhưng sau đó đến năm 2024 thì vợ chồng không còn hạnh phúc nữa, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, có phát sinh cãi vã, hiện tại đã sống ly thân với nhau. Xét thấy, mâu thuẫn gia đình đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được nên ông H1 đồng ý ly hôn với bà H.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có 02 con chung là Lê Thanh H2, sinh ngày 18/10/2005 và Lê Thanh H3, sinh ngày 14/12/2010. Con chung Lê Thanh H2 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông H1 tôn trọng quyền quyết định của con chung tên Lê Thanh H3. Con chung Lê Thanh H3 có nguyện vọng sống cùng với bà H thì ông H1 đồng ý cho bà H nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký và việc chấp hành pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án: Nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp, bà H trình bày quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn được, bà H kiên quyết ly hôn, ông H1 đồng ý ly hôn nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Minh H đối với ông Lê Thanh H1; về con chung: Con chung Lê Thanh H2, sinh ngày 18/10/2005 đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét. Con chung Lê Thanh H3, sinh ngày 14/12/2010 có nguyện vọng được sống cùng với bà H, bà H đồng ý nuôi con, ông H1 cũng đồng ý cho bà H nuôi con nên đề nghị HĐXX giao con chung Lê Thanh H3, sinh ngày 14/12/2010 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị HĐXX ghi nhận; về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát về thủ tục tố tụng, về nội dung vụ án HĐXX nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án xin ly hôn mà bị đơn cư trú tại ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương và nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo giải quyết. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
[2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H và bị đơn ông Lê Thanh H1 có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Minh H và ông Lê Thanh H1 là những người có đủ điều kiện kết hôn, chung sống vợ chồng với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà H trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, không có tiếng nói chung, ông bà đã sống ly thân với nhau. Ông H1 thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, tính tình vợ chồng không hợp nhau, có phát sinh cãi vã, hiện tại đã sống ly thân với nhau.
[4] HĐXX xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H và bị đơn ông Lê Thanh H1 đã trầm trọng, không thể hàn gắn. Nguyên đơn xin ly hôn là hoàn toàn tự nguyện và có căn cứ, bị đơn đồng ý ly hôn nên HĐXX chấp nhận cho nguyên đơn và bị đơn ly hôn theo quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Về con chung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, bản sao giấy khai sinh, xác định nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung là Lê Thanh H2, sinh ngày 18/10/2005 và Lê Thanh H3, sinh ngày 14/12/2010. Con chung Lê Thanh H2 đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét. Con chung Lê Thanh H3 có nguyện vọng được sống cùng với bà H, bà H đồng ý nuôi con, ông H1 cũng đồng ý cho bà H nuôi con nên HĐXX giao con chung Lê Thanh H3, sinh ngày 14/12/2010 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Bà H không yêu cầu ông H1 phải cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX ghi nhận.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ nên HĐXX xem xét chấp nhận.
[8] Về án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 9, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H đối với bị đơn ông Lê Thanh H1 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Minh H được ly hôn với ông Lê Thanh H1.
- Về con chung: Giao con chung Lê Thanh H3, sinh ngày 14/12/2010 cho bà Nguyễn Thị Minh H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông H1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung của ông Lê Thanh H1. Vì quyền lợi hợp pháp, chính đáng của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Minh H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp trước đây theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006560 ngày 07/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Khoa |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
