trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIÊN KHÁNH

----------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------------------

TỈNH KHÁNH HÒA

 

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày 14 - 4 - 2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Vinh
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hùng Cường
  • Ông Nguyễn Thành
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh - Khánh Hòa.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Nguyên Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 353/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXX-ST ngày 10/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐXX-ST ngày 27/3/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T - sinh năm 1997

Địa chỉ: thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

Có mặt tại phiên tòa

- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn T1 - sinh năm 1991

Địa chỉ: thôn K, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện ngày 18/11/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày: bà và ông Nguyễn Tấn T1 tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã D năm 2019. Trong thời gian chung sống, giữa vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do ông T1 có mối quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài, không có sự chăm sóc, quan tâm đến gia đình, dẫn đến vợ chồng luôn kình cãi, có những lời nói không tôn trọng nhau, gia đình không có hạnh phúc. Bà đã nhiều lần tạo cơ hội, nhưng ông T1 vẫn không thay đổi bản tính. Tình cảm giữa bà và ông T1 đã không còn, nên đã không còn chung sống với nhau từ tháng 9/2024 cho đến nay. Bà yêu cầu xin ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Tấn T1.

Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Đăng K - sinh ngày 11/12/2019 và Nguyễn Hoàng Nhật H - sinh ngày 22/12/2022. Bà T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: bà T xác định giữa bà và ông T1 không có nợ chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời ông Nguyễn Tấn T1 đến Tòa án làm việc, nhưng ông T1 vẫn cố tình vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản, giấy tờ tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông T1; con chung: 02 con chung là Nguyễn Đăng K - sinh ngày 11/12/2019 và Nguyễn Hoàng Nhật H - sinh ngày 22/12/2022. Bà T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung: bà T xác định giữa bà và ông T1 không có nợ chung.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh - Khánh Hòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn, ông T1 vi phạm khoản 16 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà T đối với ông T1. Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Đăng K (sinh ngày 11/12/2019) và Nguyễn Hoàng Nhật H (sinh ngày 22/12/2022) cho bà T trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Do bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về tài sản chung: bà T, ông T1 các bên tự thỏa thuận, nên không xem xét; nợ chung: bà T xác nhận không có nợ chung, nên không xem xét. Về án phí: bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Tấn T1.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông Nguyễn Tấn T1 tự nguyện kết hôn, đã đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã D và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 25/2019 ngày 09/7/2019. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Theo trình bày của bà T, nguyên nhân chủ yếu là do ông T1 có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, thiếu quan tâm, chăm sóc gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, khiến gia đình không hạnh phúc. Bà T khẳng định tình cảm dành cho ông T1 đã không còn. Biên bản xác minh ngày 19/12/2024 của Ủy ban nhân dân xã D xác nhận: Trong thời gian chung sống, bà T và ông T1 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Hai bên đã ly thân, hai con chung hiện do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến làm việc. Điều này thể hiện sự thiếu quan tâm của ông T1 đối với cuộc hôn nhân. Từ những thông tin trên, có thể thấy hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mâu thuẫn không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T với ông T1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3]. Về con chung: bà T và ông T1 có 02 con chung là Nguyễn Đăng K (sinh ngày 11/12/2019) và Nguyễn Hoàng Nhật H (sinh ngày 22/12/2022). Hiện tại, bà T đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con, đồng thời có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng các con. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho hai cháu K và H, việc giao hai con cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Do bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung, Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề này.

[4]. Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về nợ chung: bà T xác định giữa bà và ông T1 không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí: bà T phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn Thảovà gia đình;
  • - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn với ông Nguyễn Tấn T1.

[2]. Về con chung:

Giao 02 con chung Nguyễn Đăng K (sinh ngày 11/12/2019) và Nguyễn Hoàng Nhật H ( sinh ngày 22/12/2022) cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T1 có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, bà T và ông T1 đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi quyền nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

[3]. Về tài sản chung: Các bên tự nguyện thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4]. Về nợ chung: không có.

[5]. Về án phí: bà Nguyễn Thị Ngọc T nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), mà bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001267 ngày 28/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diên Khánh - Khánh Hòa; bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Quy định chung: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[6]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

 

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

 

Vũ Thị Kim V

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Thảo xin ly hôn ông Tâm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger