Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày 14/3/2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Cẩm Lình.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang

Ông Nguyễn Phước Lộc

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên toà: Ông Trần Quốc Toản – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 261/2024/TLST - HNGĐ ngày 31/12/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 26/02/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Võ Thị Bích T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Đường N, khu phố H, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).

* Bị đơn: Anh Lê Hoàng V, sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ C, ấp G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Võ Thị Bích T trình bày và yêu cầu như sau:

- Về hôn nhân: Chị T và anh V chung sống với nhau từ đầu năm 2017. Cả hai quen biết nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân. Đồng thời, được gia đình 02 bên thống nhất tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán tại địa phương, anh chị có thực hiện việc đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/3/2018.

Trong quá trình chung sống đến tháng 4/2018 thì giữa chị và anh V xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh V thường xuyên có hành vi bạo lực và hành hung chị T, ngoài ra anh V còn xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị T và mẹ ruột chị T. Do đó, chị T có làm đơn xin ly hôn với anh V nhưng được Tòa án hòa giải động viên nên chị rút đơn khởi kiện cho anh V cơ hội để thay đổi, tuy nhiên anh V không thay đổi mà còn tiếp tục có hành hung chị T nhiều lần khi chị T về nhà cha mẹ ruột chị T sinh sống. Chị T và anh V đã ly thân từ cuối năm 2021 đến nay.

Xét thấy, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa do mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, hôn nhân không thể kéo dài nên chị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh V.

- Về con chung: Chị và anh V có 02 con chung là Lê Bảo N (sinh ngày 29/3/2018) và Lê Tấn Đ (sinh ngày 24/12/2020), 02 cháu chung sống cùng chị T từ khi anh chị ly thân đến nay nên khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 cháu và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị và anh V tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị T cam kết, trong quá trình chung sống không có phát sinh nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Hoàng V trình bày như sau:

Qua lời trình bày của chị T về ngày vợ chồng chung sống, có 02 con chung, có tài sản chung nhưng vợ chồng sẽ tự thỏa thuận, không có nợ chung, thời gian ly thân của anh và chị T là đúng.

Về nguyên nhân mâu thuẫn, chị T trình bày chỉ đúng 01 phần của sự việc, tuy nhiên anh V xác nhận giữa anh và chị T có bất đồng quan điểm sống, nhiều lần anh bị gia đình bên chị T xúc phạm và không được tôn trọng nên anh chị thường xuyên cự cãi và có tác động giữa 02 bên nhưng những lần xảy ra sự việc thì anh không phải là người ra tay trước.

Hiện tại, anh còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn với chị T. Nếu chị T cương quyết ly hôn thì anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T và anh yêu cầu:

- Về con chung: Được nuôi 02 cháu Bảo N và Tấn Đ, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Anh và chị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa an giải quyết.

* Tại phiên tòa:

- Chị T: Giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh V; yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Anh V: Chị T cương quyết ly hôn thì anh đồng ý ly hôn; yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Bảo N, đồng ý giao cháu Tấn Đ cho chị T nuôi dưỡng, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con và anh cũng không cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng: Đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

+ Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Võ Thị Bích T và anh Lê Hoàng V.

+ Tiếp tục giao 02 con chung Lê Bảo N (sinh ngày 29/3/2018, giới tính nữ) và Lê Tấn Đ (sinh ngày 24/12/2020, giới tính nam) cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.

+ Về tài sản chung và nợ chung, chị T và anh V xác định không có nên miễn xét.

+ Ghi nhận sự tự nguyện của chị T về việc tự nguyện chịu toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (gọi tắt là HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Võ Thị Bích T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Lê Hoàng V là tranh chấp dân sự về hôn nhân và gia đình. Qua yêu cầu của đương sự trong vụ án được xác định mối quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Khi nguyên đơn khởi kiện được Tòa án thụ lý vụ án giải quyết thì bị đơn đang cư trú và sinh sống tại ấp T, ấp G, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh V chung sống với nhau từ năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/3/2018 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu của chị T về việc ly hôn với anh V: Chị T cho rằng trong thời gian chung sống giữa chị và anh V thường xuyên bất đồng quan điểm với nhau, mâu thuẫn kéo dài không thể hàn gắn được nên anh chị đã ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay, việc ly thân này cũng được anh V thừa nhận là đúng.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhằm động viên anh chị trở về chung sống, tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng anh V không đồng ý ly hôn với chị T. Tuy nhiên, chị T cương quyết ly hôn thì anh V đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T.

Tại phiên tòa, chị T cho rằng cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh V không hạnh phúc, mâu thuẫn giữa anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị T cương quyết ly hôn với anh V nên anh V đồng ý ly hôn với chị T.

Do đó, HĐXX căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị T và anh V.

[3] Về quan hệ con chung: Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, chị T và anh V xác định có 02 con chung và cả 02 đều có yêu cầu được nuôi 02 con chung sau khi ly hôn.

Tuy nhiên, HĐXX thấy rằng hiện tại 02 cháu Bảo N và Tấn Đ chưa đủ 07 tuổi cần sự trông nom, chăm sóc của người mẹ nhiều hơn và từ khi chị T và anh V ly thân 02 cháu sống cùng chị T nên việc để chị T tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu là cần thiết và phù hợp nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho 02 cháu. Do đó, HĐXX thống nhất chấp nhận yêu cầu được tiếp tục nuôi con của chị T và không chấp nhận yêu cầu nuôi con của anh V.

Về việc cấp dưỡng nuôi con, do chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét. Tuy nhiên, khi cần thiết chị T có quyền yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[4] Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, chị T và anh V xác định vợ chồng sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[5] Về nợ chung: Trong quá trình giải quyết, chị T và anh V xác định không có nên HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm (thuận tình ly hôn): Chị T tự nguyện chịu toàn bộ án phí với số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Võ Thị Bích T và anh Lê Hoàng V.

2. Về con chung: Tiếp tục giao 02 con chung Lê Bảo N (sinh ngày 29/3/2018, giới tính nữ) và Lê Tấn Đ (sinh ngày 24/12/2020, giới tính nam) cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.

Chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Khi cần thiết, chị T có quyền yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về tài sản chung: Chị T và anh V tự thỏa thuận nên HĐXX không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị T và anh V xác định, không có nên HĐXX không xem xét.

5. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm (thuận tình ly hôn): Chị Võ Thị Bích T tự nguyện chịu toàn bộ án phí số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006922 ngày 27/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang nên chị T không phải nộp thêm.

6. Quyền kháng cáo: Chị T và anh V có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 14/3/2025).

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Tp. Phú Quốc;
  • - TAND tỉnh KG;
  • - UBND P. Dương Đông;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trịnh Thị Cẩm Lình

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh V, yêu cầu được nuôi con, tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không yêu cầu giải quyết
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger