|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13/06/2025 V/v: “Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Đình Quang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Chu Văn Hữu
2. Bà Phùng Thị Kim Thuý
- Thư ký phiên tòa:Ông Lê Mạnh Cường- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Giang Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 06 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khaivụ án thụ lý số:27/2025/TLST-HNGĐ ngày25tháng 02 năm 2025về việc: “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 05 năm 2025; Quyết định Hoãn phiên tòa số: 50/2025/QÐST-HNGĐ ngày 04 tháng 06 năm 2025, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn:Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Số nhà E, phố N, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội.
-Bị đơn:Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo đơn khởi kiện, quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơnchị Nguyễn Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H kết hôn với anh Nguyễn Văn C trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ ngày 23/02/2021. Sau khi kết hôn chị và anh C chung sống cùng nhau. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C thường xuyên say rượu không làm chủ được bản thân nên hay chửi bới chị H dẫn tới vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, chị H và gia đình đã động viên anh C nhiều lần nhưng anh C không thay đổi dẫn tới mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, hiện tại chị H và anh C đã sống ly thân. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, sống với nhau không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H xin được ly hôn với anh C.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị H xác định vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thành C1, sinh ngày 01/12/2019, hiện nay cháu C1 đang ở với anh C. Nay ly hôn chị đề nghị: Chị xin nhường quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho anh C chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung và chị được quyền gặp gỡ và thăm nom con chung.
- Về Tài sản chung, tài sản riêng, Công nợ và công sức: Chị H và anh Nguyễn Văn C tự thỏa thuận với nhau và không yêu cầu tòa án giải quyết.
2. Ý kiến của bị đơn: Tại bản tự khai và biên bản hoà giải ngày 28/03/2025anh Nguyễn Văn C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhậnlời trình bày của chị H về thời gian kết hôn và các thủ tục xung quanh việc kết hôn, thời gian chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là đúng, trước đây anh hay uống rượu, hay mắng chửi chị H dẫn tới vợ chồng sống ly thân. Nay chị H xin ly hôn anh không đồng ý ly hôn vì tình cảm vợ chồng vẫn còn.
- Về con chung: Anh C xác định vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thành C1, sinh ngày 01/12/2019 hiện nay cháu C1 đang ở với anh. Nếu phải ly hôn anh xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
- Về Tài sản chung, tài sản riêng, Công nợ và công sức: Anh C và chị H tự thỏa thuận với nhau và không yêu cầu tòa án giải quyết.
Ngoài ra các đương sự không có yêu cầu gì khác.
3.Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn:
-Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật. Các đương sự: Nguyên đơn, đã chấp hành tham gia tố tụng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn không chấp hành, thực hiện về các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72, Bộ luật tố tụng Dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xửáp dụngkhoản 1 Điều 51, khoản 1 điều 56, điều 57, điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
-Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
-Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn C tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Thanh C2 - sinh ngày 01/12/2019đến khi cháu Công thành N. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C do anh C3 nguyện không yêu cầu.
Về án phí:chị Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ án lý ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về trình tự, thủ tục tố tụng:Chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn C. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 vàđiểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Tại phiên tòa hôm nay, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C4 được toà án tống đạt hợp lệ thông báo mở lại phiên toà lần thứ hai nhưng anh C đều vắng mặt không có lý do. Do vậy căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn xét xử vắng mặt chị H và anh C là đúng quy định của pháp luật.
[2].Vềnội dung vụ án:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh C trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ ngày 23/02/2021. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống chung cùng gia đình anh C, tình cảm vợ chồng những năm đầu hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian. Sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, vợ chồng thường xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm sống, cách sống, lối sống. Anh chị đã sống ly thân từ nhiều năm nay, không ai còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị H1 định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C để giải phóng cho nhau. Về phía anh C trình bày quan điểm việc chị H xin ly hôn, anh C cũng khẳng định quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhưng không lớn. Nay chị H xin ly hôn anh không đồng ý ly hôn. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữachị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn C5 rạn nứt, khó hàn gắn được. Sau khi chị Hươngcóđơn xin ly hôn tại Toàán anhCườngxin đoàn tụ nhưng anh không có biện pháp tích cực nào để cải thiện tình cảm vợ chồng. Mặt khác, Qua xác minh tại Khu hành chính và UBND xã T, huyện T cho rằng khả năng đoàn tụ giữa chị H và anh C là khó. Như vậy, có thể thấy tình trạng mâu thuẫnvợ chồng giữa chị H và anh C5 đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu kéo dài chỉ gây đau khổ cho cả hai bên, làm cho anh, chị sống không đem lại hạnh phúc, không còn tình yêu thương. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H và xử cho chị H được ly hôn anh C là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
2.1 Về con chung: chị H và anh C đều xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thanh C2 - sinh ngày 01/12/2019, hiện nay cháu C2 đang ở với anh. Khi ly hôn anh C có quan điểm nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu C2 và anh tự nguyện không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Về phía chị H cũng nhất trí với quan điểm của anh C. Xét yêu cầu của anh C và chị H đều thống nhất giao cháu C2 cho anh C chăm sóc, nuôi dưỡng là hoàn toàn tự nguyện cần được chấp nhận.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung quá trình giải quyết vụ án, anh C không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Xét yêu cầu của anh C không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn tự nguyện cần được chấp nhận.
2.3Về tài sản chung, Công nợ chung, công sức đóng góp: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn C tự thoả thuận với nhau vàkhông yêu cầu Tòa án giải quyết,nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2.4 Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật
[3].Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]Về quan hệ hôn nhân:Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
[2]Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thành C1 - sinh ngày 01/12/2019cho anh Nguyễn Văn C được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu C1 đến khi thành niên. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C do anh C3 nguyện không yêu cầu. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm gặp, chăm sóc con chung mà không ai được ngăn cấm, cản trở.
[3]Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp:Chị H và anh C tự thoả thuận với nhau nên không yêu cầu toà án giải quyết.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm:Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp là 300.000 VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai số: BLTU/2024/0001879ngày 25/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[5] Về quyền kháng cáo:Chị H và anh C vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Tạ Đình Quang |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
