Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13 – 3 – 2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Qui
  2. Ông Âu Cần Đông

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Việt – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Mỹ Diện - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 08/2025/TLST-HN&GĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 về việc: Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Mai Thị Mỹ H, sinh năm 1973 (vắng mặt).

    Địa chỉ: Ấp T, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hùng C, sinh năm 1968 (vắng mặt).

    Địa chỉ: Ấp B, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Mai Thị Mỹ H trình bày: Tôi và ông Nguyễn Hùng C tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2010, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc, dần về sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải nhau, hiện tại chúng tôi đã không còn chung sống với nhau, do tình cảm không còn nên tôi yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hùng C.

Về con chung: Có 01 con chung tên Mai Thị Kim Đ, giới tính: nữ, sinh ngày 23/3/2011, hiện đang sống chung với tôi, tôi có yêu cầu nuôi dưỡng cháu Đ và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Có tài sản chung, nhưng chúng tôi tự thoả thuận không yêu cầu toà án giải quyết. Về nợ chung: Không có. Tôi yêu giữ nguyên ý kiến trình bày và yêu cầu Toà án tiến hành giải quyết vắng mặt tôi trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Bị đơn ông Nguyễn Hùng C trình bày: Tôi thống nhất phần trình bày của nguyên đơn về phần hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung, về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và đồng ý ly hôn. Về con chung: Tôi thống nhất giao cháu Đ cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, tôi không tranh chấp. Về tài sản chung tự thoả thuận, về nợ chung không có. Tôi giữ nguyên ý kiến trình bày và yêu cầu toà án giải quyết vắng mặt tôi trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về thủ tục tố tụng: Xác định việc thụ lý, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 81, 82, 83 Luật hôn nhân & gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Mai Thị Mỹ H và ông Nguyễn Hùng C là vợ chồng. Về con chung: Giao cháu Mai Thị Kim Đ, giới tính: nữ, sinh ngày 23/3/2011 cho bà Mai Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng; bà H không yêu cầu cấp dưỡng nên ông C không có nghĩa vụ cấp dưỡng. Về tài sản chung các đương sự tự thỏa thuận; về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Mai Thị Mỹ H khởi kiện ông Nguyễn Hùng C yêu cầu được ly hôn, nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Long Mỹ theo khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông C tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2010, nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc, dần về sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Hiện tại, bà H và ông C không còn chung sống với nhau. Bị đơn ông Nguyễn Hùng C cũng thống nhất với ý kiến trình bày của nguyên đơn về quá trình chung sống, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và ông C cũng đồng ý ly hôn. Xét thấy, bà H và ông C chung sống với nhau như vợ chồng, có đủ điều kiện nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định, căn cứ Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận bà Mai Thị Mỹ H và ông Nguyễn Hùng C là vợ chồng.

[3] Về con chung: Có 01 con chung tên Mai Thị Kim Đ, giới tính: nữ, sinh ngày 23/3/2011, hiện đang sống chung với bà H, bà H có yêu cầu nuôi dưỡng cháu Đ. Cháu Mai Thị Kim Đ cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với bà H, ông C cũng thống nhất giao cháu Đ cho bà H nuôi dưỡng, không tranh chấp. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự giao cháu Mai Thị Kim Đ cho bà Mai Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng, bà H không yêu cầu cấp dưỡng nên ông C không có nghĩa vụ cấp dưỡng.

[4] Về tài sản chung: Có tài sản chung, nhưng các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: các đương sự khai thống nhất không có, nên không xem xét.

[5] Từ những tình tiết chứng cứ nêu trên, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

[6] Về án phí: Nguyên đơn Bà Mai Thị Mỹ H phải chịu 300.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, 147; 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 14, 15, 16, 51, 81; 82; 83 của Luật hôn nhân & gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;

[2] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Mai Thị Mỹ H và ông Nguyễn Hùng C là vợ chồng.

[4] Về con chung: Công nhận sự thoả thuận giữa bà Mai Thị Mỹ H và ông Nguyễn Hùng C: Giao cháu Mai Thị Kim Đ, giới tính: nữ, sinh ngày 23/3/2011 cho bà Mai Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng; bà H không yêu cầu cấp dưỡng nên ông C không có nghĩa vụ cấp dưỡng

[5] Ông Nguyễn Hùng C có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

[6] Bà Mai Thị Mỹ H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Nguyễn Hùng C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

[7] Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp, đương sự có quyền khởi kiện thành vụ án khác. Về nợ chung: Không có, nên không xem xét.

[8] Về án phí: Bà Mai Thị Mỹ H phải nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai số 0008179 ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ thành tiền án phí (bà H đã nộp xong).

[9] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thị xã Long Mỹ;
  • - Chi cục TAHDS thị xã Long Mỹ;
  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - UBND xã Long Phú;
  • - Cổng TTĐT (để công bố);
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không công nhận VC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger