Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.


Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13/02/2025.

V/v: “Tranh chấp hôn nhân và

gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quốc Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa.

Ông Lê Như Hạnh.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân

dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên

tòa:

Bà Lữ Thị Phương Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 159/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/01/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 2001.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1998.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn H, xã H, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú hiện nay: Hàn Quốc.

(Tại phiên tòa vắng mặt anh Đ, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/8/2024, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị T trình bày:

  1. Về hôn nhân: Chị T và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa ngày 17/12/2020. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2022, anh Đ đi xuất khẩu sang Hàn Quốc sinh sống và lao động, vợ chồng sống ly thân và bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị T là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung hơn nữa do sống xa nhau khiến tình cảm vợ chồng không còn như trước và mâu thuẫn cũng ngày càng trầm trọng. Mặc dù đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không có kết quả. Từ đó không ai quan tâm đến ai, chị không biết địa chỉ cụ thể của anh hiện nay ở đâu, như thế nào để cung cấp cho Tòa án. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.
  2. Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn Đ không có con chung.
  3. Về tài sản, công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung hay công nợ chung gì nên chị Lê Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Quá trình giải quyết tại Toà án, chị T trình bày anh Đ vẫn ở bên Hàn Quốc nhưng chị không biết địa chỉ cụ thể nên không thể cung cấp cho Tòa án, chị đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa thu thập thông tin xuất nhập cảnh đối với anh Nguyễn Văn Đ. Tại Công văn số 18863/QL-XNC-P3 ngày 21/8/2024 của Cục Q - Bộ C xác nhận anh Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 09/01/1998 đã xuất, nhập cảnh 09 lần, lần cuối xuất cảnh vào ngày 03/8/2024 qua cửa khẩu N bằng Hộ chiếu C9177723, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Anh Đ vẫn thường xuyên liên lạc với bố, mẹ đẻ của mình là ông Nguyễn Văn P và bà Đoàn Thị Đ1, địa chỉ ở thôn H, xã H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin từ bố, mẹ đẻ của anh Đ.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 25/12/2024, ông Nguyễn Văn P và bà Đoàn Thị Đ1 (bố, mẹ đẻ của anh Đ) trình bày: Ông, bà là bố, mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn Đ. Chị Lê Thị T là vợ anh Đ và là con dâu ông, bà. Năm 2020 anh Đ và chị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thành phố T, tỉnh ThanhHóa. Sau khi cưới, vợ chồng anh Đ, chị T chung sống cùng vợ chồng ông, bà tại thôn H, xã H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Năm 2022 anh Đ đi làm ăn tại Hàn Quốc còn chị T vẫn ở cùng gia đình ông, bà. Thi thoảng anh Đ có về thăm vợ chồng ông, bà và chị T. Việc anh Đ và chị T có mâu thuẫn như thế nào ông, bà không biết. Tháng 8 năm 2024, chị T xin phép ông, bà để về nhà mẹ đẻ ở đồng thời thông báo cho ông, bà biết là chị T đã làm đơn ly hôn với anh Đ tại Toà án.

Từ khi anh Đ sang Hàn Quốc làm ăn, vẫn thường xuyên gọi điện về hỏi thăm sức khỏe vợ chồng ông, bà nhưng anh Đ không nói địa chỉ của anh tại Hàn Quốc, vì vậy ông, bà cũng không biết địa chỉ cụ thể của anh Đ tại Hàn Quốc để cung cấp cho Tòa án. Qua điện thoại với ông, bà, anh Đ cũng biết việc chị T làm đơn ly hôn với anh và anh Đ cũng đồng ý ly hôn nhưng do công việc anh Đ không thể về Việt Nam được, anh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Nay chị T làm đơn xin ly hôn với anh Đ, quan điểm của ông, bà việc chị T và anh Đ ly hôn hay không là quyền của anh, chị, ông, bà không ý kiến gì. Về con chung chị T và anh Đ không có con chung; Về tài sản thì vợ chồng anh Đ và chị T không có tài sản gì.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã đến làm việc và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án. Bản thân ông, bà là bố, mẹ đẻ anh Đ nên đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh Đ được biết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn Đ vắng mặt không có lý do.

Hội đồng xét xử (HĐXX) công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị T; Biên bản làm việc với bố, mẹ đẻ của anh Đ là ông Nguyễn Văn P, bà Đoàn Thị Đ1 và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị T, xử cho chị T được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ; Về con chung chị T và anh Đ không có con chung nên không xét. Tài sản chung của vợ chồng chị T không yêu cầu nên đề nghị Toà án không giải quyết. Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Về thẩm quyền của Tòa án: Chị Lê Thị T là nguyên đơn đang cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn là anh Nguyễn Văn Đ đăng ký hộ khẩu tại thôn H, xã H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay đang sinh sống và lao động tại Hàn Quốc. Do trong vụ án có nguyên đơn cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Khoản 3 Điều 35; Điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
    2. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:

      Chị Lê Thị T chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh Nguyễn Văn Đ ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh Đ tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng ông P, bà Đ1 là bố, mẹ đẻ của anh Đ đều trình bày không biết địa chỉ hiện nay của anh Đ ở Hàn Quốc. Tuy anh Đ thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại nhưng không nói địa chỉ của anh hiện nay ở nước ngoài. Do vẫn thường xuyên liên lạc với anh Đ nên ông P, bà Đ1 sẽ có trách nhiệm thông báo cho anh Đ được biết. Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng như các văn bản tố tụng của Toà án cho ông P, bà Đ1 để ông, bà thông báo lại cho anh Đ, đồng thời tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.

    3. Về sự vắng mặt của đương sự. Tại phiên tòa nguyên đơn là chị Lê Thị T vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Nguyễn Văn Đ mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
  2. Về nội dung:
    1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp.

      Trong lời khai và các tài liệu gửi đến Tòa án, chị T đều trình bày sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian. Sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Đến năm 2022, anh Đ đi sang Hàn Quốc sinh sống và lao động, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Từ khi sang Hàn Quốc anh Đ không quan tâm đến chị, chị không biết địa chỉ cụ thể của anh hiện nay ở đâu, như thế nào để cung cấp cho Tòa án. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.

    2. Về con chung: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Văn Đ không có con chung.
    3. Về tài sản, công nợ chung: Chị Lê Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét. Anh Nguyễn Văn Đ không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh Đ yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ. Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51; Điều 56; Khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5; Điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị T.

  1. Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.
  2. Về con chung: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Văn Đ không có con chung nên Tòa án không giải quyết..
  3. Về tài sản, công nợ chung: Chị Lê Thị T không yêu cầu Tòa án không xem xét. Anh Nguyễn Văn Đ không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh Đ yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
  4. Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị T đã nộp theo Biên lai thu số 0000525 ngày 30/9/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thanh Hóa.
  5. Quyền kháng cáo: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án, hoặc từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P9);
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Hoằng Đại, TP.Thanh Hoá, TH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS vụ án;
  • - Lưu Tòa GD&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quốc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger