Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12-6-2025

V/v: “tranh chấp về ly hôn và con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt, bà Vũ Thị Mai

Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 62/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 về việc “tranh chấp về ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa:

* Nguyên đơn: Chị Phùng Thị C, sinh năm 1976 (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: thôn H, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang

* Bị đơn: Anh Hoàng Văn Y, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn H, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo nguyên đơn là chị Phùng Thị C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn Y kết hôn với nhau vào năm 1998, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương; có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2024 bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau; anh Y thường xuyên uống rượu về nhà chửi vợ con, thậm chí đe dọa chị làm cho cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Chị và anh Y cũng ly thân từ đó đến nay không còn ai quan tâm tới ai, không hề liên lạc với nhau. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn Y.

- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Hoàng Thị H, sinh năm 2000; Hoàng Nhân H1, sinh năm 2001 và Hoàng Thị T, sinh ngày 01/11/2010. Hiện nay cháu H, cháu H1 đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết, còn cháu T đang ở cùng anh Y. Ly hôn chị đồng ý để anh Y nuôi dưỡng cháu T. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Hoàng Văn Y trình bày: Anh xác nhận thời gian kết hôn, đăng ký kết hôn như chị Phùng Thị C trình bày là đúng. Quá trình chung sống đến khoảng năm 2020 thì vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị C có quan hệ bất chính với người đàn ông khác, không quan tâm đến gia đình dẫn đến vợ chồng cãi cọ qua lại, bất đồng quan điểm nhưng anh chưa bao giờ đánh đập chị C. Vợ chồng sống ly thân từ khoảng năm 2024, chị C tự bỏ nhà đi, không ăn tết ở nhà. Nay chị C làm đơn khởi kiện xin ly hôn thì anh nhất trí để cho chị C hạnh phúc với người đàn ông khác.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung như chị C trình bày. Đối với cháu H, cháu H1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Đối với cháu T đang ở cùng với anh, đề nghị Tòa án giao cho anh được nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng do anh Hoàng Văn Y đều vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Tại phiên toà, nguyên đơn là chị Phùng Thị C vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Hoàng Văn Y vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ tham gia phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành nghiêm túc, đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị C được ly hôn anh Hoàng Văn Y.
  2. Về con chung: Giao cho anh Hoàng Văn Y trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hoàng Thị T, sinh ngày 01/11/2010.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phùng Thị C và anh Hoàng Văn Y không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

2

3. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Phùng Thị C và anh Hoàng Văn Y không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phùng Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn khởi kiện của chị Phùng Thị C cùng các tài liệu nộp kèm theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thị xã C. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chũ theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Chũ đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự pháp luật đã quy định. Tại phiên tòa nguyên đơn là chị C vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Y vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do chính đáng. Vì vậy HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị C, anh Y theo quy định tại Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị C và anh Hoàng Văn Y có đăng ký kết hôn vào ngày 19/10/2000 tại UBND xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã K, thị xã C). Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh Y là hợp pháp.

Về tình trạng hôn nhân, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Lời khai của chị Phùng Thị C và anh Hoàng Văn Y phù hợp với biên bản xác minh tại địa phương; đều xác định vợ chồng chị C, anh Y sảy ra nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã có khoảng thời gian sống ly thân và không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau.

Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Phùng Thị C và ý kiến của anh Hoàng Văn Y đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, trong thời gian sống chung vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ về nhân thân, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc; không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình. Chị Phùng Thị C và anh Hoàng Văn Y đã mâu thuẫn trầm trọng; sống ly thân nhau từ năm 2024 đến nay và không còn quan tâm, chăm sóc gì cho nhau. Việc này trái với các quy định tại các điều 19, 21 luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về căn cứ cho ly hôn thì thấy rằng: Tình trạng hôn nhân của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phùng Thị C đối với anh Hoàng Văn Y.

3

[4] Về con chung: Chị Phùng Thị C và anh Hoàng Văn Y có 03 con chung là Hoàng Thị H, sinh năm 2000; Hoàng Nhân H1, sinh năm 2001 và Hoàng Thị T, sinh ngày 01/11/2010.

Đối với cháu H, cháu H1 đã trưởng thành chị C, anh Y không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với cháu Hoàng Thị T đã đủ 07 tuổi và có nguyện vọng xin được ở với anh Y; đồng thời chị C, anh Y đều có ý kiến thống nhất để anh Y là người trực tiếp nuôi dưỡng. Do vậy, cần giao cháu Hoàng Thị T cho anh Hoàng Văn Y trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phùng Thị C và anh Hoàng Văn Y không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn chị Phùng Thị C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở chị Phùng Thị C thực hiện quyền này.

Chị C và anh Y có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[5] Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Phùng Thị C và anh Hoàng Văn Y không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị Phùng Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị C được ly hôn anh Hoàng Văn Y.

2. Về con chung: Giao cho anh Hoàng Văn Y trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hoàng Thị T, sinh ngày 01/11/2010.

Sau khi ly hôn chị Phùng Thị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở chị C thực hiện quyền này.

Chị C, anh Y có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Phùng Thị C và anh Hoàng Văn Y không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4

4. Về án phí: Chị Phùng Thị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00003094 ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Phùng Thị C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thị xã Chũ;
  • - Chi cục THADS thị xã Chũ;
  • - UBND xã Kiên Lao, thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang (36/2000);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Văn Sang

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp về ly hôn và con chung

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp về ly hôn và con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: acgv
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger