Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12-02-2025

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con".

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thành Thị Thu T

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Văn C – Cán bộ hưu trí.
  2. Bà Thiều Thị Phi L – Nguyên phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ thành phố Biên Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng L – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 2127/2024/TLST-HNGĐ ngày 04/10/2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 432/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 17/2025/QÐST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  • · Nguyên đơn: Bà Mai Liên Tố T, sinh năm 1996;
  • Địa chỉ: Nhà chưa số, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • · Bị đơn: Ông Dương Quốc V, sinh năm 1991;
  • Địa chỉ: H khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • (Bà T có đơn xin vắng mặt, ông V vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Mai Liên Tố T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Dương Quốc V tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 24 tháng 10 năm 2016.

Trong thời gian đầu, vợ chồng tôi chung sống bình thường. Đến khoảng năm 2020 phát sinh mâu thuẫn về lối sống, quan điểm sống, cách nuôi dạy con cái và nhiều vấn đề khác. Cả hai đã cố gắng khắc phục nhưng mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2023.

Đến nay, tôi nhận thấy hôn nhân lâm vào bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Tôi đã không còn tình cảm với ông V nên tôi đề nghị Tòa án cho ly hôn với ông Dương Quốc V.

Về con chung: Tôi và ông V có một con chung là cháu Dương Quốc T1, sinh ngày 08/5/2018. Ly hôn tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Dương Quốc T1 và không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Dương Quốc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có bản tự khai nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông V.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

  • Về quan hệ hôn nhân: Xét cuộc sống vợ chồng của bà T, ông V không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà T yêu cầu ly hôn với ông V là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
  • Về con chung: Bà T và ông V có một con chung là cháu Dương Quốc T1, sinh ngày 08/5/2018. Giao cháu T1 cho bà T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông V không cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông V nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu.
  • Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà T phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Bà Mai Liên Tố T yêu cầu được ly hôn với ông Dương Quốc V và giải quyết vấn đề con chung. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; Bà Mai Liên Tố T là nguyên đơn, ông Dương Quốc V là bị đơn.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Mai Liên Tố T nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Dương Quốc V có đang sinh sống tại địa chỉ H khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

[3] Về thủ tục tố tụng: Bà Mai Liên Tố T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Dương Quốc V đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông V theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Liên Tố T và ông Dương Quốc V tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 24 tháng 10 năm 2016 nên áp dụng Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà T, quá trình chung sống đến khoảng năm 2020, đặc biệt là từ năm 2023, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp, bất đồng quan điểm, không có hạnh phúc. Hai vợ chồng đã hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay bà nhận thấy tình trạng hôn nhân lâm vào bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Bà không còn tình cảm với ông V nên đề nghị Tòa án cho ly hôn với ông Dương Quốc V.

Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập ông V đến Tòa làm việc nhưng ông V vẫn vắng mặt không lý do, không có ý kiến phản hồi thể hiện việc ông V không tích cực trong việc hòa giải, hàn gắn quan hệ vợ chồng, không thiết tha cuộc sống hôn nhân với bà T. Qua kết quả xác minh tại nơi cư trú ngày 14/11/2024 thì địa phương không nắm được mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông V do không trình báo.

Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà T và ông V là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T, giải quyết cho bà T được ly hôn với ông V để trả tự do cả hai là phù hợp.

[5] Về con chung: Bà T và ông V có một con chung là cháu Dương Quốc T1, sinh ngày 08/5/2018. Bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, ông V không đến Tòa làm việc nên không ghi nhận được ý kiến. Hiện nay, bà T đang kinh doanh buôn bán, thu nhập bình quân 6.000.000đ/tháng nên đủ điều kiện và khả năng để nuôi con. Cháu T1 hiện đang sống cùng bà T nên Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Tạm thời, ông V không cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông V nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

[7] Về án phí: Bà T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Liên Tố T. Bà Mai Liên Tố T được ly hôn với ông Dương Quốc V.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Dương Quốc T1, sinh ngày 08/5/2018 cho bà Mai Liên Tố T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm thời ông Dương Quốc V không phải cấp dưỡng nuôi con.
  3. Ông V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

  4. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Bà Mai Liên Tố T phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 000764 ngày 24/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS ND tỉnh Đồng Nai;
  • - T.H.A dân sự TP. Biên Hoà;
  • - VKS TP Biên Hoà;
  • - Các đương sự.
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Thành Thị Thu T

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đã có bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger