|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11/4/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị M
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị H1 Bà Hoàng Thị T1
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Thảo V1 - Thư ký TAND huyện V, tỉnh Hưng Yên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị L - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 159/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 03 ngày 31/3/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Lê Văn Q, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Đ, thôn H, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên
- - Bị đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Đ, thôn H, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên
- Những người tham gia tố tụng khác:
- - Người làm chứng: ông Lê Văn T1, sinh năm 1957 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Văn Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị T đã có thời gian tìm hiểu nhau gần 3 năm và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy Ban nhân dân xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 08/2021 ngày 23/3/2021. Sau khi kết hôn, anh và chị Tươi S tại nhà bố mẹ anh tại Đ, thôn H, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Anh chị sống hạnh phúc đến đầu tháng 4 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm sống. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do chị T hay ghen, nghi anh có người phụ nữ khác mà không có căn cứ. Từ đó hai vợ chồng gặp nhau là cãi nhau. Anh chị sống ly thân từ tháng 4 năm 2024, anh chuyển ra Hà Nội ở, còn chị T ở nhà bố mẹ chồng. Đến tháng 8 năm 2024, chị T chuyển về nhà riêng của chị tại Đội 4, thôn H, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên ở đến nay. Tháng 11/2024, vì nhà anh có việc nên anh có về nhà bố mẹ và gặp chị T ở nhà, anh chị không nói chuyện gì với nhau, từ đó đến nay chị T cũng không về nhà anh lần nào nữa. Anh xác định không còn tình cảm với chị T, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn.
Về con chung: Anh và chị T không có con chung nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, đất nông nghiệp, công sức: Anh xác định anh và chị T không có gì chung, anh không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Theo biên bản lấy lời khai, bị đơn chị Phạm Thị T trình bày: Chị và anh Lê Văn Q tự nguyện kết hôn, việc đăng ký kết hôn như anh Q trình bày trên. Anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 3/2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn chủ yếu là do chị phát hiện anh Q có mối quan hệ với người đàn bà khác. Khi bị chị phát hiện, anh Q chuyển ra ở riêng và không thường xuyên về nhà. Tình cảm vợ chồng từ đó cũng phai nhạt dần, không quan tâm tới nhau. Chị đã chuyển về sinh sống tại Đội 4, thôn H, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên từ tháng 8 năm 2024 và không quay lại nhà anh Q nữa. Từ đó đến nay chị và anh Q không không liên lạc với nhau. Nay anh Q xin ly hôn, chị không đồng ý ly hôn vì anh Q còn nợ mẹ chị là bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962, đia chỉ: thôn T, xã B, huyện K, tỉnh Hưng Yên và em gái chị là chị Phạm Thị T2, sinh năm 1985, địa chỉ: Đ, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên, tổng số tiền là 200.000.000 đồng.
Về con chung: Chị và anh Q không có con chung nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, đất nông nghiệp, công sức: Chị xác định chị và anh Q không có gì chung, chị không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Theo biên bản lấy lời khai, người làm chứng ông Lê Văn T1 trình bày:
Ông là bố đẻ của anh Lê Văn Q và là bố chồng của chị Phạm Thị T. Anh Lê Văn Q và chị Phạm Thị T có thời gian tìm hiểu nhau và tự nguyện kết hôn. Anh chị có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên năm 2021. Sau khi tổ chức lễ cưới, anh chị về nhà ông tại Thôn H, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên sinh sống. Đã 03 năm kể từ ngày anh chị chung sống, chị T luôn nằm ở nhà chơi, không chịu đi làm kiếm tiền. Gia đình ông khuyên chị T nhiều lần thì chị T mở quán bán đồ ăn sáng tại nhà. Tuy nhiên, mở quản được hơn một tháng thì chị lại nghỉ làm và lại ở nhà chơi tiếp. Chị T có con riêng là cháu Nguyễn Thị Thu H1 sống cùng gia đình ông nhưng cháu gặp ông bà không chào hỏi, chị T còn nhiều lần lớn tiếng cãi lại mẹ chồng. Quá trình anh Q và chị T chung sống, ông chứng kiến anh chị thường xuyên cãi nhau, chị T ghen tuông vô cớ, có lần chị T còn đánh anh Q khiến anh Q bị bầm một bên mắt. Vài lần anh Q đưa các đồng nghiệp về nhà ăn cơm, chị T luôn tỏ thái độ khó chịu, khiến các đồng nghiệp của anh Q không thoải mái. Từ tháng 8 năm 2024, chị T đưa con riêng của chị về thôn H, xã M ở. Từ đó đến nay chị T không quay lại nhà ông. Nay anh Q xin ly hôn, ông đề nghị Tòa án cho hai anh chị được ly hôn để sớm ổn định cuộc sống của cả hai người.
Về con chung: Anh Q và chị T không có con chung.
Về tài sản, công nợ, đất nông nghiệp: Anh Q và chị T không có gì chung.
Về công sức: Chị T không đóng góp công sức gì cho gia đình ông.
* Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Chị Phạm Thị T và anh Lê Văn Q tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy Ban nhân dân xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 08/2021 ngày 23/3/2021. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại nhà bố mẹ anh Q ở xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Quá trình chung sống, anh chị có xảy ra mâu thuẫn. Khoảng tháng 8 năm 2024 chị T chuyển về ở tại thôn H, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa hai anh chị chính quyền địa phương không nắm được. Anh Q và chị T không có con chung. Các vấn đề về tài sản chung, công nợ chính quyền địa phương không nắm được.
Tại phiên tòa: Sau khi HĐXX xem xét các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đại diện VKSND huyện V tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, hoạt động thu thập chứng cứ đúng trình tự thủ tục đảm bảo khách quan, HĐXX không thuộc trường hợp phải thay đổi, việc xem xét chứng cứ tại phiên tòa đảm bảo đúng quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không chấp hành đúng quy định tại điều 70; điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm b khoản 1 điều 39; Khoản 4 điều 147; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử cho anh Lê Văn Q ly hôn chị Phạm Thị T.
Về con chung: anh Q và chị T không có con chung nên không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, đất nông nghiệp, công sức: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Anh Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của các đương sự, người làm chứng, kết quả xác minh tại chính quyền địa phương, các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, đã có đủ căn cứ khẳng định: Chị Phạm Thị T và anh Lê Văn Q kết hôn hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên vào ngày 23/3/2021 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn chủ yếu là do anh chị bất đồng quan điểm sống, mất lòng tin với nhau. Anh chị đã ly thân từ tháng 08 năm 2024 đến nay. Chị T khẳng định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, tình cảm phai nhạt, không còn quan tâm đến nhau nhưng chị không đồng ý ly hôn vì chị cho rằng anh Q còn nợ tiền của mẹ và em gái chị. Điều đó chứng tỏ chị T không níu giữ cuộc hôn nhân này vì còn tình cảm với anh Q. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh Q đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc anh Q chưa trả tiền cho người nhà của chị T (nếu có) không phải là căn cứ để xem xét việc ly hôn. HĐXX thấy việc anh Q xin ly hôn là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3].Về con chung: Chị T và anh Q không có con chung nên không đặt ra giải quyết.
[4]. Về tài sản chung, công nợ, đất nông nghiệp, công sức: Chị T và anh Q không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[5]. Về án phí: Anh Q phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
- - Khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Q, xử cho anh Lê Văn Q ly hôn chị Phạm Thị T
- Về con chung, tài sản chung, công nợ, đất nông nghiệp, công sức: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Anh Lê Văn Q phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Đối trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí anh Q đã nộp theo biên lai thu số 0003046 ngày 11/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V, anh Q đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THỊ M |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH HƯNG YÊN về hôn nhân gia đình (ly hôn)
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân gia đình (Ly hôn)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án hôn nhân gia đình giữa anh Q và chị T
