Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VỊ THANH

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày 11/02/2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Thu Thuý

Bà Nguyễn Trường Hận

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 11 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 169/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 04/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17/01/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim U, sinh năm 2000 (Có mặt).

Địa chỉ: Số E khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Hồ Văn T, sinh năm 2002 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim U trình bày:

Bà U và ông Hồ Văn T tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào ngày 20/6/2022 tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc nhưng sau đó bà U và ông T bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn đặc biệt là sau khi sinh đứa con đầu lòng. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung, ông T không lo cho vợ con mà chủ yếu ham mê cờ bạc. Hiện tại bà U và ông T đang sống ly thân. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được nên bà U yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Hồ Nhựt N (giới tính: Nam), sinh ngày 08/9/2022 và Hồ Nhựt L (giới tính: Nam), sinh ngày 12/6/2024. Hiện 02 con chung đang do bà U nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà U yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim U trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn ông Hồ Văn T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim U khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà U được ly hôn với ông Hồ Văn T và yêu cầu được nuôi con chung. Đây là tranh chấp ly hôn, nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Bị đơn ông Hồ Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham dự phiên tòa lần thứ hai nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim U và ông Hồ Văn T tiến tới hôn nhân và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố V, tỉnh Hậu Giang vào ngày 20/6/2022 nên quan hệ hôn nhân giữa bà U và ông T là hợp pháp.

Về yêu cầu xin ly hôn của bà U: Trong quá trình chung sống, bà U và ông T thường xuyên xảy ra cãi vã, nguyên nhân do tính cách vợ chồng không phù hợp làm cho cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng. Bà U và ông T đã không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì yêu cầu ly hôn của bà U là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về con chung: Bà U và ông T có 02 con chung tên Hồ Nhựt N (giới tính: Nam), sinh ngày 08/9/2022 và Hồ Nhựt L (giới tính: Nam), sinh ngày 12/6/2024. Bà U yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy hai con chung từ lúc mới được sinh ra cho đến nay và ngay cả khi bà U và ông T không còn sống chung thì cháu N và cháu L vẫn do bà U chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu giao con chung cho ông T nuôi dưỡng sẽ làm xáo trộn cuộc sống của các cháu và sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất cũng như tâm lý của các cháu. Ngoài ra, hai con chung hiện tại đều dưới 36 tháng tuổi và bà U hiện tại có việc làm và thu nhập ổn định đủ khả năng nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, để đảm bảo tốt nhất quyền lợi của các con chung sau khi cha, mẹ ly hôn về các mặt vật chất, tình cảm và điều kiện chăm sóc, giáo dục, cũng như tránh làm xáo trộn cuộc sống của các con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao hai con chung cho bà U được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà U chưa yêu cầu.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét trong cùng vụ án.

[5] Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim U phải chịu là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim U. Bà Nguyễn Thị Kim U được ly hôn với ông Hồ Văn T.
  2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim U được quyền nuôi dưỡng 02 con chung tên Hồ Nhựt N (giới tính: Nam), sinh ngày 08/9/2022 và Hồ Nhựt L (giới tính: Nam), sinh ngày 12/6/2024.

Ông Hồ Văn T chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà Nguyễn Thị Kim U chưa yêu cầu.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét trong cùng vụ án.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Kim U phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), bà U được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001099 ngày 04/10/2024 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố V thành án phí. Bà Nguyễn Thị Kim U không phải nộp thêm.
  3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 11/02/2025, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Vị Thanh;
  • - Chi cục THADS TP Vị Thanh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Tân Tiến, TP Vị Thanh, HG;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Huỳnh Thị Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CHO LH
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger