Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÀNG LONG

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 09/6/2025.

“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Văn Xuôi.
  • 2. Ông Thạch Thanh Long.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: bà Nguyễn Quế Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long tham gia phiên tòa: ông Phạm Văn Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long đưa ra xét xử sơ thẩm bằng hình thức trực tuyến vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 407/2024/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 10 năm 2024, về việc: “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 59/2025/QĐST - HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025, và quyết định hoãn phiên tòa số: 99/2025/QĐST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Vỏ Thị Thúy N, sinh năm: 1992 (có mặt). Địa chỉ Khóm C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  2. Bị đơn: anh Nguyễn Duy T, sinh năm 1986 (vắng mặt không lý do). Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Cháu Nguyễn Vỏ Gia H, sinh ngày 20/12/2015 (có mặt). Địa chỉ: Khóm C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người hỗ trợ kỷ thuật trực tuyến điểm cầu trung tâm có ông Đinh Văn D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/7/2024, và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vỏ Thị Thúy N trình bày:

Trước đây vào năm 2014 chị với anh Nguyễn Duy T tự tìm hiểu quen biết, sau đó dẫn đến cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 22/11/2014, về nữ trang ngày cưới vợ chồng đã thống nhất bán tiêu xài hết, hiện nay không còn. Trong qúa trình sống chung chị với anh T có 01 đứa con chung tên cháu Nguyễn Vỏ Gia H, sinh ngày 20/12/2015, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do hai người bất đồng quan điểm trong cuộc sống anh T thường xuyên ăn nhậu về hành hung chị, anh T không lo làm ăn phụ nuôi con dẫn đến gia đình không có hạnh phúc nên chị đã sống ly thân từ tháng 07 năm 2023 cho đến nay.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân của chị với anh T không có hạnh phúc, không thể sống chung với nhau, nên chị làm đơn xin được ly hôn với anh Duy T, về con chung chị xin trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Vỏ Gia H vì hiện cháu đang sống với chị, chị không yêu cầu anh Duy T phụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Duy T: Vắng mặt không có lý do, nên không có bản tự khai.

Người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan:

Cháu Nguyễn Vỏ Gia H trình bày: hiện cháu đang sống chung với mẹ N, sau khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng sống với mẹ.

Qua biên bản xác minh của bà Mai Thị C là mẹ ruột của anh Nguyễn Duy T sống chung nhà với anh T, bà cho biết bà cưới chị Vỏ Thị Thúy N cho con bà là Nguyễn Duy T, sau ngày cưới sống chung với nhau có 01 con chung tên Nguyễn Vỏ Gia H, sinh ngày 20/12/2015 hiện cháu H đang sống với chị N, về tài sản chung của T và N không có, và nợ chung thì không nghe thiếu ai, hiện nay T đi làm thuê ở Tây Ninh không có nhà, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng T với N là do T thường xuyên nhậu nhẹt, N có nói với bà thì bà có la rầy T. Từ đó hai đứa bất đồng quan điểm trong cuộc sống, và đã sống ly thân với nhau, còn việc ly hôn hay đoàn tụ do hai đứa tự quyết định bà không có ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long phát biểu ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án, cho đến trước thời điểm nghị án, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định tại Điều 48, Điều 70; 71;72 của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Vỏ Thị Thúy N và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Vỏ Gia H đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật, còn bị đơn anh Nguyễn Duy T, Toà án có triệu tập nhiều lần, nhưng anh không chấp hành theo giấy triệu của Tòa án, nên không có bản tự khai, và không có yêu cầu cụ thể, tại phiên tòa xét xử hôm nay anh T vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.

Áp dụng: Khoản 1, Điều 28, Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng: các Điều 19;51;53;54;56;58;81;82;83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Vỏ Thị Thúy N, cho chị Vỏ Thị Thúy N được ly hôn với anh Nguyễn Duy T, về con chung do cháu Nguyễn Vỏ Gia H hiện đang sống với chị N, và nguyện vọng của cháu H sau khi cha mẹ ly hôn cháu muốn sống với mẹ, nên cần giao cháu H cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng, do chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, về tài sản chung, và nợ chung không có, nên không đặt ra giải quyết.

Chị Vỏ Thị Thúy N phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo qui định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Chị Vỏ Thị Thúy N và anh Nguyễn Duy T xác lập quan hệ hôn nhân, và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 22 tháng 12 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh đúng theo quy định của pháp luật. Trong quá trình sống chung chị Vỏ Thị Thúy N với anh Nguyễn Duy T có 01 con chung tên cháu Nguyễn Vỏ Gia H, sinh ngày 20/12/2015, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẩn vợ chồng là do anh T với chị N thường xuyên cãi nhau, anh T mỗi lần nhậu về là hành hung chị N, không lo làm ăn nuôi vợ con, cuộc sống cho gia đình không có hạnh phúc dẫn đến hai người sống ly thân từ tháng 07 năm 2023 cho đến nay.

[2] Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị Vỏ Thị Thúy N và anh Nguyễn Duy T không có khả năng hàn gắn đoàn tụ được, nên chị Vỏ Thị Thúy N làm đơn xin được ly hôn với anh Nguyễn Duy T, về con chung cháu Nguyễn Vỏ Gia H hiện đang sống chung với chị N, nên chị Vỏ Thị Thúy N yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu H là phù hợp với nguyện vọng của cháu H, chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Đối với anh Nguyễn Duy T, Tòa án có triệu tập nhiều lần nhưng anh cố tình vắng mặt không có lý do, nên không có lời khai cũng như yêu cầu của anh, mặt dù Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và thông báo việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, cũng như quyết định hoãn phiên toà của Tòa án cho bà Mai Thị C là mẹ ruột nhận thay và cam kết đưa tận tay anh T. Do anh T cố tình vắng mặt xem như anh từ bỏ quyền lợi của anh tại phiên tòa.

[4] Theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 qui định, thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nhưng ở đây hai người sống với nhau được 01 đứa con chung, anh T không lo làm ăn nuôi con chung và xây dựng hạnh phúc gia đình, mà anh thường xuyên ăn chơi nhậu nhẹt. Từ đó chị N quyết định xin ly hôn với anh T. Và qua xác minh người thân của anh T thì vợ chồng anh T không có tạo ra tài sản chung, và cũng không có thiếu nợ chung, và hai người đã sống ly thân nhau từ tháng 07 năm 2023 cho đến nay.

Từ các cơ sở phân tích trên, thấy rằng mục đích hôn nhân của chị Vỏ Thị Thúy N với anh Nguyễn Duy T không đạt được, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ hai người đã sống ly thân nhau từ tháng 07 năm 2023 đến nay. Căn cứ vào Điều 56 Luật

hôn nhân và gia đình xét thấy việc chị Vỏ Thị Thúy N xin ly hôn với anh Nguyễn Duy T là có căn cứ phù hợp pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.

[5] Về con chung: do cháu Nguyễn Vỏ Gia H, sinh ngày 20/12/2015, hiện đang sống chung với chị N, nên chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu H là phù hợp với nguyện vọng của cháu H, chị N không yêu cầu anh T phụ cấp dưỡng nuôi con là phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về tài sản chung, và nợ chung: do chị Vỏ Thị Thúy N khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Án phí: chị Vỏ Thị Thúy N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Vị kiểm sát viên là có căn cứ phù hợp pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng: Khoản 1, Điều 28; Khoản 1 Điều 35; điểm a, Khoản 1, điều 39; Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 238, và Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Áp dụng: các Điều 19; 51; 53; 54; 56; 58; 81; 82; 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • - Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vỏ Thị Thúy N.

Cho chị Vỏ Thị Thúy N được ly hôn với anh Nguyễn Duy T.

Về con chung: chị Vỏ Thị Thúy N được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nuyễn Vỏ Gia H1, sinh ngày 20/12/2015, anh T không phải cấp dưỡng nuôi cháu H1 do chị N chưa yêu cầu.

Anh Nguyễn Duy T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dạy con chung không ai được quyền ngăn cấm hoặc cản trở.

Về tài sản, nợ chung: chị Vỏ Thị Thúy N khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: chị Vỏ Thị Thúy N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm mà chị N đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0004533, ngày 16/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long. Nên chị N không phải nộp thêm tiền án phí.

Anh Nguyễn Duy T không phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.

Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho chị N có mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh T vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b, và điều 9 luật thi hành án

dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Càng Long;
  • - Chi cục THADS huyện Càng Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Văn Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger