Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM TRỰC

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 09-4-2025

Về tranh chấp: Ly hôn, nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hà

Ông Nguyễn Văn Hinh

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QÐST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1983; nơi cư trú: tổ dân phố số A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Trần Khắc T, sinh năm 1975; nơi cư trú: tổ dân phố số A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định. (vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện nộp ngày 27 tháng 01 năm 2025, trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trần Khắc Tình tự N kết hôn ngày 19 tháng 4 năm 2004, hai bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T không có trách nhiệm với gia đình. Vợ chồng ly thân nhau từ năm 2022 cho đến nay, trong thời gian ly thân, vợ chồng không quan tâm chăm sóc gì đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nam Trực giải quyết cho chị ly hôn anh Trần Khắc T.

Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Trần Lệ Q, sinh ngày 03-03-2005, (giới tính: Nữ); Trần Lê V, sinh ngày 18-02-2009 (giới tính: Nữ); Trần An N1, sinh ngày 05-9-2014 (giới tính: Nữ). Hiện nay cháu Trần Lệ Q đã trên 18 tuổi, trưởng thành tự lập nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu Trần Lê V và cháu Trần An N1 đang sống cùng với chị. Nếu ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu Trần Lê V và cháu Trần An N1 cho chị trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung để cháu ổn định sinh hoạt, học tập. Việc cấp dưỡng nuôi con chị và anh Tình tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: chị Trần Thị L xác định vợ chồng không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Nam Trực đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh T không đến Tòa án để làm bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng không tham gia phiên tòa nên anh T không có quan điểm để giải quyết vụ án.

Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 14-01-2025 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, chính quyền địa phương xác nhận: Chị L và anh T có nơi cư trú tại tổ dân phố số A thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định vào ngày 19-4-2004. Chị L và anh T có 03 con chung là Trần Lệ Q, sinh ngày 03-03-2005, (giới tính: Nữ); Trần Lê V, sinh ngày 18-02-2009 (giới tính: Nữ); Trần An N1, sinh ngày 05-9-2014 (giới tính: Nữ). Về tình trạng hôn nhân của chị Trần Thị L và anh Trần Khắc T thì chính quyền địa phương không nắm được do chị L nộp đơn trực tiếp tại Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định và không hòa giải tại chính quyền địa phương. Nay chị L có đơn xin ly hôn anh T thì chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản ghi nguyện vọng của con chung đối với cháu Trần An N1, sinh ngày 05-9-2014 (giới tính: Nữ), cháu Trần An N1 trình bày: cháu có bố tên là Trần Khắc T, có mẹ tên là Trần Thị L; bố mẹ cháu mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau; nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng ở với mẹ là Trần Thị Lệ .

Tại biên bản ghi nguyện vọng của con chung đối với cháu Trần Lê V, sinh ngày 18-02-2009 (giới tính: Nữ), cháu Trần Lê V trình bày: cháu có bố tên là Trần Khắc T, có mẹ tên là Trần Thị L; bố mẹ cháu mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau; nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng ở với mẹ là Trần Thị Lệ .

3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên toà đều đảm bảo thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị L và anh Trần Khắc T; Về con chung: Giao con Trần Lê V, sinh ngày 18-02-2009 (giới tính: Nữ); Trần An N1, sinh ngày 05-9-2014 (giới tính: Nữ) cho chị Trần Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Về cấp dưỡng nuôi con chị Trần Thị L và anh Trần Khắc Tình T1 thỏa thuận, không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị L là nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Trần Khắc T là bị đơn đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Trần Thị L và anh Trần Khắc T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L và anh Trần Khắc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N ngày 19 tháng 4 năm 2004 nên hôn nhân giữa chị Trần Thị L và anh Trần Khắc T là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T không có trách nhiệm với gia đình. Vợ chồng ly thân nhau từ năm 2022 cho đến nay, trong thời gian ly thân, vợ chồng không quan tâm chăm sóc gì đến nhau nữa.

Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng đối với anh T nhưng anh T không đến Tòa án làm việc, không có quan điểm gì chứng tỏ anh T không có nguyện vọng đoàn tụ. Nay chị L xác định không còn tình cảm với anh T và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Trần Thị L và anh Trần Khắc T mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị Trần Thị L và anh Trần Khắc T theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Trần Lệ Q, sinh ngày 03-03-2005, (giới tính: Nữ); Trần Lê V, sinh ngày 18-02-2009 (giới tính: Nữ); Trần An N1, sinh ngày 05-9-2014 (giới tính: Nữ). Hiện nay cháu Trần Lệ Q đã trên 18 tuổi, trưởng thành tự lập; còn cháu Trần Lê V và Trần An N1 hiện đang sống cùng chị L từ nhỏ, chị L cũng đề nghị Tòa án giao cháu An N1 và cháu Lê V cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để hai cháu không bị ảnh hưởng học tập và sinh hoạt. Ngoài ra, tại biên bản lấy ý kiến của cháu Lê V và cháu An N1 thì hai cháu đều có nguyện vọng ở trực tiếp với mẹ. Hội đồng xét xử nhận thấy việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cả vợ và chồng, việc giao nuôi con chung phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung nên căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao con cháu Trần Lê V và Trần An N1 cho chị Trần Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Trần Thị L xác định vợ chồng không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chị Trần Thị L là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị L và anh Trần Khắc T .

2. Về con chung: Giao con Trần Lê V, sinh ngày 18-02-2009 (giới tính: Nữ); Trần An N1, sinh ngày 05-9-2014 (giới tính: Nữ) cho chị Trần Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chị Trần Thị L và anh Trần Khắc Tình T1 thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bên không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này.

Bên không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung

3. Về án phí: Chị Trần Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Trần Thị L đã nộp tại biên lai số 0005269 ngày 12-02-2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực. Chị Trần Thị L đã nộp đủ.

4. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị L và anh Trần Khắc T có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì chị Trần Thị L, anh Trần Khắc T có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự "

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Nam Trực;
  • - Chi cục THADS huyện Nam Trực;
  • - UBND TT Nam Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 09/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger