Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 - GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 07-11-2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tiến Sỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thái Thạnh.

Ông Nguyễn Văn Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thành Long, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 26/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Rah Lan H, sinh ngày 09/10/1984, số định danh cá nhân 064184010457; địa chỉ: thôn T, xã I, tỉnh Gia Lai.

Bị đơn: Anh Siu P, sinh ngày 03/10/1981, số định danh cá nhân 064081005071; địa chỉ: thôn T, xã I, tỉnh Gia Lai.

Chị Rah Lan H có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Siu P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo Đơn khởi kiện đề ngày 26/6/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Rah Lan H trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:

    Về quan hệ hôn nhân: Chị Rah Lan H và anh Siu P đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 146 ngày 21/6/2012 của UBND xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (nay là UBND xã I, tỉnh Gia Lai). Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc nhưng càng về sau càng phát sinh mâu thuẫn. Anh chị đã ly thân được một thời gian dài, ai trở về nhà nấy sinh sống. Đến nay chị cảm thấy mâu thuẫn hôn nhân đã thật sự trầm trọng, không còn tình cảm nên xin được ly hôn với anh Siu P.

    Về nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con: Chị Rah L H’Meng và anh Siu P có 05 con chung là Rah Lan H1, sinh ngày 08/9/2003; Rah Lan H'Ganh, sinh ngày 08/9/2003; Rah Lan A, sinh ngày 06/6/2007; Rah Lan H'My Ran, sinh ngày 29/02/2009; Rah Lan T, sinh ngày 02/12/2010. Các cháu Rah L H’Manh, Rah Lan H và Rah Lan A đã thành niên và tự lập nên chị Rah L H’Meng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với các cháu Rah L H’My Ran và Rah Lan T hiện nay chưa thành niên, chị Rah L H'Meng có nguyện vọng được nuôi cả 02 con và không yêu cầu anh Siu P cấp dưỡng nuôi con.

    Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị Rah L H’Meng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  2. Đối với bị đơn anh Siu P:

    Anh Siu P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng triệu tập anh Siu P đến Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia các phiên tòa sơ thẩm nhưng anh Siu P không có ý kiến, yêu cầu và vắng mặt không có lý do trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.

  3. Kết quả xác minh mâu thuẫn hôn nhân giữa chị Rah Lan H và anh Siu P:

    Theo thông tin do ông Siu Y là Thôn T, xã I, tỉnh Gia Lai cung cấp thì mâu thuẫn hôn nhân giữa chị Rah L H’Meng và anh Siu P là đúng sự thật, hiện hai người đã ly hôn theo phong tục tập quán của người Gia Rai, không sống chung với nhau đã một thời gian dài.

  4. Diễn biến phiên tòa:
    1. Nguyên đơn chị Rah L H’Meng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Siu P vắng mặt không có lý do nên các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết các vấn đề tranh chấp.
    2. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Gia Lai:

      Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã được Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng, bị đơn chưa chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật.

      Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Rah L H’Meng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ phạm vi yêu cầu khởi kiện của chị Rah L H’Meng thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự đều cư trú tại thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (nay là thôn T, xã I, tỉnh Gia Lai), tranh chấp không có yếu tố nước ngoài. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Gia Lai.

[2] Theo Phiếu xác nhận thông tin cư trú ngày 26/6/2025 và kết quả xác minh tại Ban Nhân dân thôn thì anh Siu P hiện nay có cư trú tại thôn T, xã I, tỉnh Gia Lai. Tuy nhiên anh Siu P không thường xuyên có mặt tại nơi cư trú do đi làm ở Thành phố Hồ Chí Minh, thỉnh thoảng mới về. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi văn bản tố tụng cho người thân thích của anh Siu P nhận thay, đồng thời niêm yết công khai các văn bản tố tụng cần tống đạt cho anh Siu P theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng anh Siu P đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Anh Siu P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Siu P.

[3] Chị Rah Lah H2 và anh Siu P tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 146 ngày 21/6/2012 của UBND xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (nay là UBND xã I, tỉnh Gia Lai). Việc kết hôn của anh chị đảm bảo về điều kiện kết hôn, không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn và được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 nên có giá trị pháp lý, là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[4] Theo lời trình bày của chị Rah L H’Meng thì nguyên nhân chị yêu cầu ly hôn anh Siu P là do mâu thuẫn trong quá trình chung sống. Anh chị đã ly thân, không sống chung với nhau từ lâu, ai trở về nhà nấy. Quá trình giải quyết vụ án, chị Rah L H’Meng đã được phân tích về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng, động viên rút đơn để đoàn tụ với anh Siu P nhưng chị Rah L H’Meng không đồng ý, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng chị Rah L H’Meng có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải, anh Siu P vắng mặt không có lý do nên không tiến hành hòa giải được.

[5] Khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình (sau đây gọi là Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP) quy định: “Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” là thuộc một trong các trường hợp sau đây: “a) Không có tình nghĩa vợ chồng, ví dụ: vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng”.

[6] Anh Siu P vắng mặt không có lý do trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không phản đối ý kiến trình bày, tài liệu, chứng cứ do chị Rah L H'Meng giao nộp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được nên Hội đồng xét xử có căn cứ xác định mâu thuẫn hôn nhân giữa Chị Rah Lah H2 và anh Siu P là có thật. Chị Rah L1 H’Meng không còn thương yêu anh Siu P và kiên quyết xin ly hôn, không đồng ý rút đơn khởi kiện hoặc hòa giải đoàn tụ; anh Siu P vắng mặt không có lý do trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, thể hiện thái độ thờ ơ, bỏ mặc quan hệ hôn nhân, không có ý thức hòa giải mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm với chị Rah Lan H. Mâu thuẫn giữa anh chị được Ban N xác nhận, hiện nay anh chị đã sống ly thân và quan hê vợ chồng của anh chị đã được giải quyết xong theo phong tục tập quán của người Gia Rai. Căn cứ các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình như đã viện dẫn tại Mục [5], Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của chị Rah L1 H’Meng và anh Siu P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị R Lah H'Meng, xử cho chị Rah L1 H'Meng được ly hôn anh Siu P.

[7] Về nuôi con: Chị Rah L1 H’Meng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung chưa thành niên là Rah Lan H, sinh ngày 29/02/2009 và Rah Lan T, sinh ngày 02/12/2010. Hội đồng xét xử xét thấy chị Rah L H’Meng có công việc ổn định, có thu nhập hàng tháng, đủ khả năng để nuôi dưỡng, chăm sóc các con bảo đảm về mọi mặt, các con hiện nay đều đang được chị Rah L H'Meng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ. Anh Siu P vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến, yêu cầu về việc nuôi con. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Rah L H’Meng, giao hai con chung là Rah L H’My R1 và Rah Lan T cho chị Rah L H’Meng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sau khi ly hôn.

[8] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Rah L H’Meng không yêu cầu nên anh Siu P không phải cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.

[9] Về chia tài sản chung, nợ chung: Các đương sự đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung.

[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Rah L H’Meng là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
  • Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85, Điều 86 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Rah L H’Meng.
    1. 1.1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Rah L H’Meng được ly hôn anh Siu P.

      Giấy chứng nhận kết hôn số 146 ngày 21/6/2012 của Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (nay là Ủy ban nhân dân xã I, tỉnh Gia Lai) hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

    2. 1.2. Về nuôi con, cấp dưỡng nuôi con: Giao hai con chung chưa thành niên là Rah Lan H'My R1, sinh ngày 29/02/2009 và Rah Lan T, sinh ngày 02/12/2010 cho chị Rah L H’Meng trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ ngày 07/11/2025 cho đến khi con chung thành niên, hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

      Anh Siu P không phải cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.

      Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

      Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

  2. 2. Về án phí sơ thẩm: Chị Rah L H’Meng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000625 ngày 22/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai. Chị Rah Lan H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  3. 3. Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND Khu vực 11 - Gia Lai;
  • - PTHADS Khu vực 11 - Gia Lai;
  • - UBND xã Ia Hrú, tỉnh Gia Lai;
  • - Lưu: HSVA, VT-LT, CРТ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký, đóng dấu)

Võ Tiến Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 07/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - GIA LAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger