Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

—————

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày 07 tháng 02 năm 2025

V/v: “Tranh chấp về việc xác định cha cho con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Vũ Minh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liên, ông Bùi Quang Hợi

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Vân Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 về việc Tranh chấp về xác định cha cho con.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXX-ST ngày 08 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1987; có mặt

Trú tại: Khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994; có mặt

Trú tại: Khu P, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1991; có mặt

Trú tại: Khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn anh Nguyễn Hữu Đ trình bày:

Trong khoảng thời gian từ năm 2023 đến năm 2024, thông qua công việc, anh Đ đã gặp gỡ có mối quan hệ ngoài luồng với chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994, HKTT: Khu phố P, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Trong khoảng thời gian này, chị H đã đăng ký kết hôn hợp pháp với người khác, còn anh Đ cũng đã kết hôn và là chồng hợp pháp của chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1991, HKTT: Khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Vào khoảng cuối năm 2023, chị H biết mình có thai và đã thông báo cho anh Đ biết. Vào ngày 16/4/2024, chị H sinh con tại bệnh viện Đ2, tên dự kiến trên giấy chứng sinh là Nguyễn Hải Đ1, tên dự kiến khai sinh là Nguyễn Ngọc Ánh D. Anh Đ đã tự đăng kí thủ tục xét nghiệm AND, xác định cháu D là con đẻ của mình. Do chị H không có ý định nuôi con, nên vào ngày 18/4/2024, anh H và vợ là chị H1 đã tới Bệnh viện Đ2 II đón cháu D về nuôi với sự đồng ý của chị Nguyễn Thị H. Hiện nay anh Đ đề nghị HĐXX xác định mình là bố đẻ của cháu Nguyễn Ngọc Ánh D (Tên trên giấy chứng sinh: Nguyễn Hải Đ1).

Về chi phí giám định và các chi phí tố tụng khác: Anh Nguyễn Hữu Đại tự N chi trả.

Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản tự khai, các buổi làm việc với Toà án và tại phiên toà, bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1987, trú tại: Khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh có mối quan hệ gặp gỡ và quen biết nhau thông qua công việc. Tại thời điểm gặp gỡ, cả hai đều đã đăng kí kết hôn hợp pháp, tuy nhiên do cuộc sống gia đình không hoà thuận, vợ chồng chị H đã ly thân nhau được một thời gian. Do đó chị đã nảy sinh mối quan hệ ngoài luồng với anh Đ và phát hiện ra mình mang thai. Sau đó chị H đã thông báo cho anh Đ biết. Vào ngày 16/4/2024, chị H sinh con tại Bệnh viện Đ2, anh Đ và vợ là chị Nguyễn Thị H1 đã lên bệnh viện C, hỗ trợ chị H trong quá trình sinh con. Chị H biết và đồng ý việc anh Đ đưa cháu D đi làm xét nghiệm ADN. Do điều kiện hoàn cảnh không cho phép, chị đồng ý để anh Đại nuôi con. Do vậy, chị đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh Đ, đề nghị HĐXX xác nhận anh Nguyễn Hữu Đ là bố đẻ của cháu Nguyễn Ngọc Ánh D, sinh ngày 16/4/2024 (Tên trên giấy chứng sinh: Nguyễn Hải Đ1).

Về án phí và các chi phí tố tụng khác: Chị H không có ý kiến gì.

Tại bản tự khai, các buổi làm việc với Toà án và tại phiên toà, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H1 trình bày:

Chị và anh Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1987, trú tại: Khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh là vợ chồng hợp pháp, đã đăng kí kết hôn và chung sống với nhau từ ngày 24/5/2013. Vào khoảng năm 2023-2024, anh Đ có phát sinh mối quan hệ ngoài luồng với chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994, HKTT: Khu phố P, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Chị H1 không biết gì về mối quan hệ của anh Đ, chị H. Tới khoảng tháng 4/2024, chị H gọi điện thông báo với chị H1 về sự việc, và cho biết chị H đang mang thai con của anh Đ. Anh Đ cũng đã thừa nhận sự việc với chị H1. Đến ngày 16/4/2024, chị H sinh con tại Bệnh viện Đ2, chị H1 cùng anh Đ tới bệnh viện thăm nom, chăm sóc chị H trong khoảng thời gian sinh con. Khi biết chị H không có ý định nuôi con là cháu Nguyễn Ngọc Ánh D (Tên trên giấy chứng sinh: Nguyễn Hải Đ1), chị H1 đã đề nghị chị H để con cho chị và anh Đ nuôi dưỡng, chị H đồng ý. Ngày 18/4/2024, khi chị H được ra viện, chị H đã đồng ý giao con cho chị H1, anh Đ dưới sự chứng kiến của mẹ đẻ chị H là bà Hoàng Thị B. Tại xét nghiệm ADN nhằm xác định huyết thống cha con đã cho biết cháu Nguyễn Ngọc Á D có cùng huyết thống với chồng chị là anh Nguyễn Hữu Đ. Do vậy chị đề nghị HĐXX công nhận anh Nguyễn Hữu Đ là bố đẻ của cháu Nguyễn Ngọc Ánh D, sinh ngày 16/4/2024 (Tên trên giấy chứng sinh: Nguyễn Hải Đ1).

Về án phí và các chi phí tố tụng khác: Chị H1 không có ý kiến gì.

2

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu quan điểm tại phiên toà:

- Về tố tụng: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hữu Đ, tuyên bố anh Nguyễn Hữu Đ là bố đẻ của cháu Nguyễn Ngọc Ánh D, sinh ngày 16/4/2024 (Tên trên giấy chứng sinh: Nguyễn Hải Đ1).

Về án phí và các chi phí tố tụng khác: Đề nghị xác nhận anh Đại tự N chịu toàn bộ chi phí giám định và giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà:

[1] Về tố tụng:

- Tranh chấp giữa hai đương sự là Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, do vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Chị Nguyễn Thị H có hộ khẩu thường trú tại khu P, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

- Về nội dung: Anh Nguyễn Hữu Đ có đơn khởi kiện đề nghị xác định anh là bố đẻ của cháu Nguyễn Ngọc Ánh D, sinh ngày 16/4/2024 (Tên trên giấy chứng sinh: Nguyễn Hải Đ1). HĐXX nhận thấy cháu D được mang thai trong thời kì hôn nhân của chị Nguyễn Thị H với chồng là anh và chưa được cấp giấy khai sinh. Tuy nhiên, theo kết quả giải trình tự ADN ngày 29/11/2024 của công ty TNHH V kết luận: Người có mẫu ghi tên Nguyễn Hữu Đ có quan hệ huyết thống cha – con với người có mẫu ghi tên Nguyễn Ngọc Ánh D với độ tin cậy 99,9999%. Chị Nguyễn Thị H là mẹ đẻ của cháu D cũng thừa nhận sự việc, xác nhận anh Đ là bố đẻ của cháu D. Lời khai của các đương sự là phù hợp với kết luận giám định. Do đó, căn cứ vào Điều 101, 102 Luật Hôn nhân và Gia đình, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về chi phí giám định: Anh Nguyễn Hữu Đại tự N chịu toàn bộ chi phí giám định.

Về án phí: Anh Nguyễn Hữu Đ được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 88, 89, 91, 101 và Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 264, 266, 267, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

3

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án; Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hữu Đ.

    Xác định anh Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1987, trú tại: Khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh là cha đẻ của cháu Nguyễn Ngọc Ánh D, sinh ngày 16/4/2024 (Tên trên giấy chứng sinh: Nguyễn Hải Đ1).

  2. Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Hữu Đ được miễn án phí sơ thẩm. Trả lại cho anh Đ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001076 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND TP. Bắc Ninh;
  • -Chi cục THADS TP. Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ: Văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Vũ Minh Trang

4

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hường

Hoàng Thảo Yến

Phạm Vũ Minh Trang

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp về việc xác định cha cho con

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về việc xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp xác định cha cho con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger