Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 03-6-2025

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. 1. Bà Trương Thị Đạt;
  2. 2. Ông Nguyễn Đình Rành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chính Việt Phương - Thư ký Tòa án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 155/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 2 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08/5/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim P, sinh năm 1976. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

  2. Bị đơn: Ông Võ Ngọc T, sinh năm 1977. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số I L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/2/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị Kim P trình bày:

Bà P và ông Võ Ngọc T qua thời gian tìm hiểu thì cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 113, quyển số 01/2006 đăng ký ngày 14/8/2006 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống khá hạnh phúc. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng càng về sau lại càng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách vợ chồng có nhiều điểm không hợp nhau.

Ông T thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn, cờ bạc, phá tán tài sản gia đình. Mặc dù bà đã khuyên ngăn rất nhiều lần nhưng ông T vẫn không thay đổi. Cuộc sống gia đình rơi vào tình trạng căng thẳng kéo dài, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống cũng như công việc của cả hai bên. Bà P đã nhiều lần đề nghị ông T thuận tình ly hôn nhưng ông tìm nhiều cách để trì hoãn. Hiện nay, bà nhận thấy tình trạng hôn nhân đã rất trầm trọng, cuộc hôn nhân không thể cứu vãn, mục đích của hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, tiếp tục quan hệ hôn nhân cũng không mang đến hạnh phúc nên bà P yêu cầu được ly hôn với ông Võ Ngọc T.

Về con chung: Bà Phạm Thị Kim P xác nhận, quá trình chung sống bà và ông Võ Ngọc T có 01 (Một) con chung, họ tên là Võ Nhất H (Giới tính: Nam), sinh ngày 07/10/2007. Hiện con chung đang sống cùng bà P và ông T. Sau khi ly hôn, bà P yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nợ chung.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị Kim P có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Về phía bị đơn ông Võ Ngọc T, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận G đã nhiều lần triệu tập ông T đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định pháp luật nhưng ông T không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do, không có văn bản, ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận G về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

  • Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý; Về xác định tư cách tham gia tố tụng; Xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ, Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý; Về thời hạn chuẩn bị xét xử không đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

    • - Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

    • - Bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

  • Về nội dung: yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn bà Phạm Thị Kim P yêu cầu khởi kiện ly hôn với bị đơn ông Võ Ngọc T và ông T đang cư trú tại Quận G; Đây là tranh chấp về ly hôn là loại tranh chấp được quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại Khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về phía bị đơn, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận G đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai cũng như hòa giải theo quy định pháp luật và thuộc trường hợp đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo Điểm b Khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì ông Võ Ngọc T đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa tham gia tố tụng nên ông T phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ việc theo những chứng cứ có trong hồ sơ.

[1.4] Nguyên đơn là bà Phạm Thị Kim P có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Căn cứ Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án chỉ xem xét giải quyết khi đương sự có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim P và ông Võ Ngọc T tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào năm 2006. Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 113, quyển số 01/2006 đăng ký ngày 14/8/2006 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có đủ cơ sở để xác định bà P và ông T là vợ chồng hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.

Về yêu cầu được ly hôn với ông Võ Ngọc T của bà Phạm Thị Kim P, Hội đồng xét xử xét thấy:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Võ Ngọc T không nộp bản tự khai, không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia hòa giải, không có các biện pháp cụ thể để hàn gắn tình cảm vợ chồng thể hiện sự thiếu quan tâm đến việc xây dựng gia đình, bỏ mặc quan hệ hôn nhân với bà P. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của bà P về nguyên nhân mâu thuẫn làm căn cứ để giải quyết vụ án. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà P trình bày trong phần nội dung vụ án có căn cứ để xác định mâu thuẫn trong mối quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông T đã đến mức trầm trọng, cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông T không đạt được, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông T cũng chỉ là sự ràng buộc về mặt pháp lý sẽ không mang lại hạnh phúc cho nhau. Nên việc bà P yêu cầu ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận phù hợp với quy định tại Điều 19, Khoản 1 Điều 51 và Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

[3.2] Về con chung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của bà P có cơ sở xác định: Trong quá trình sống chung bà Phạm Thị Kim P và ông Võ Ngọc T có 01 (Một) con chung, họ tên là Võ Nhất H (Giới tính: Nam), sinh ngày 07/10/2007.

Bà P yêu cầu về nuôi con chung như sau: Sau khi ly hôn, bà P đề nghị cho bà P được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện con chung đang sống với bà P, bà P đang là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, có công việc ổn định đảm bảo cho việc nuôi dưỡng con chung và trẻ Võ Nhất H cũng có nguyện vọng muốn sống với mẹ. Do đó, để ổn định và tạo điều kiện cho trẻ phát triển hài hòa về thể chất lẫn tinh thần, Hội đồng xét xử giao trẻ Võ Nhất H cho bà Phạm Thị Kim P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con hàng tháng: Bà Phạm Thị Kim P tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3.3] Về tài sản chung: Bà Phạm Thị Kim P xác nhận tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[3.4] Về nợ chung: Bà Phạm Thị Kim P xác nhận không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về án phí: Bà Phạm Thị Kim P phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Luật phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

[5] Quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị Kim P và ông Võ Ngọc T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[6] Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 5; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 2 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 19, Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị Kim P và ông Võ Ngọc T (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 113, quyển số 01/2006 đăng ký ngày 14/8/2006 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh).

  2. Về con chung: Bà Phạm Thị Kim P và ông Võ Ngọc T có 01 (Một) con chung, họ tên là Võ Nhất H (Giới tính: Nam), sinh ngày 07/10/2007. Giao con chung là trẻ Võ Nhất H cho bà Phạm Thị Kim P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị Kim P về việc không yêu cầu ông Võ Ngọc T cấp dưỡng nuôi con chung.

    Ông Võ Ngọc T có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, vì quyền lợi của con, khi có yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  4. Về nợ chung: Không có.

  5. Án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị Kim P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo: Biên lai thu tạm ứng án phí ký kiệu BLTU/23P, số 0037476 ngày 19/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phạm Thị Kim P đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

  6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, tuyên án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Các đương sự vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Phạm Thị Kim P khởi kiện ly hôn với ông Võ Ngọc T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger