|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 03/03/2025
V/v tranh chấp ly hôn, con chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lâm Hoàng Huynh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Triều.
- Bà Nguyễn Thuỳ Trang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: bà Trần Huỳnh Bảo Nhi - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 342/2024/TLST- HN ngày 28 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 05/02/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 22/2025/QĐST-HN ngày 25/02/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Thanh B, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số E, Đường số D, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Chị Võ Thị Ngọc B1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số A, khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và tại phiên tòa nguyên đơn anh Trần Thanh B trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thanh B và Võ Thị Ngọc B1 quen biết nhau vào năm 2002, sau đó tìm hiểu nhau trong, rồi quyết định tiến tới hôn nhân, hai bên gia đình có tổ chức đám cưới và anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C và được Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 64 ngày 29 tháng 8 năm 2003. Sau khi cưới, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc nhưng đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, thường xuyên có sự cãi vã trong gia đình, anh B làm nghề tài xế, phải thường xuyên đi làm xa nhà, chị B1 thì thường xuyên gen tuông vô cớ, do đó anh B nãy sinh tình cảm với người phụ nữ khác, không còn tình cảm yêu thương với chị B1, nên vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay. Từ đó không ai muốn hàn gắn để quay lại cuộc sống hôn nhân.
Nay anh Trần Thanh B không còn tình cảm với chị Võ Thị Ngọc B1 nên xin được ly hôn với chị Võ Thị Ngọc B1.
- Về con chung: có 03 con chung tên Trần Nhật M, sinh năm 2004, Trần Nhật P sinh ngày 26/12/2010 và Trần Khánh N sinh ngày 25/10/2012. Hiện cháu Nhật M đã trưởng thành tự lao động sinh sống được nên anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh B đồng ý giao 02 con Nhật P và Khánh N cho chị B1 nuôi dưỡng sau khi ly hôn, anh B đồng ý cấp dưỡng 5.000.000 đồng mỗi tháng cho hai cháu Nhật P và Khánh N đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa bị đơn chị Võ Thị Ngọc B1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Thời gian và việc quen biết tìm hiểu tiến tới hôn nhân như B trình bày là đúng, anh chị quen biết nhau từ thời học sinh, sau thời gian tìm hiểu, được gia đình hai bên chấp thuận nên tiến tới hôn nhân, hai bên gia đình có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C và được Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 64 ngày 29 tháng 8 năm 2003. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến khoảng năm 2010 thì chị B1 phát hiện anh B có người phụ nữ khác, sau đó vào năm 2012 anh B hứa sẽ thay đổi, quay về với gia đình, nhưng đến năm 2017 anh B lên Đ làm việc lại quen thêm một người phụ nữ khác, chị B1 cũng ráng nhịn và sống vì con nên cũng không muốn ly hôn và chấp nhận sống như vậy cho đến nay. Nhưng anh B không muốn hàn gắn, anh B bỏ lên thành phố Hồ Chí Minh sống, từ đó chị B1 và anh B sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay.
Hiện nay, mặc dù không còn tình cảm với anh B, nhưng anh B xin ly hôn thì chị B1 không đồng ý, vì muốn các con có đủ cha và mẹ, để các cháu phát triển bình thường, khi các con đủ 18 tuổi thì chị mới đồng ý ly hôn với anh B.
- Về con chung: chị B1 và anh B có 03 con chung là cháu Trần Nhật M, sinh năm 2004, Trần Nhật P, sinh ngày 26/12/2010 và Trần Khánh N sinh ngày 25/10/2012. Cháu M hiện đang đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh, cháu P và cháu N hiện đang sống với chị B1. Trong trường hợp Toà án cho chị và anh B ly hôn thì chị B1 đồng ý nuôi 02 con Nhật P và Khánh N sau khi ly hôn, chị B1 cũng đồng ý để anh B cấp dưỡng 5.000.000 đồng mỗi tháng cho hai cháu Nhật P và Khánh N cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Cháu Nhật M đã trưởng thành tự lao động sinh sống được nên chị B1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: thẩm phán đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách của người tham gia tố tụng, thu thập đầy đủ chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và thư ký: Tại phiên toà Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của anh Trần Thanh B được ly hôn với chị Võ Thị Ngọc B1. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Trần Nhật P, sinh ngày 26/12/2010 và Trần Khánh N, sinh ngày 25/10/2012 cho chị B1 chăm sóc nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Công nhận sự thoả thuận giữa anh B và chị B1 về cấp dưỡng nuôi con, anh B tự nguyện cấp dưỡng số tiền 5.000.000 đồng mỗi tháng cho hai cháu Nhật P và Trần Khánh N cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Đối với cháu Trần Nhật M, sinh năm 2004 đã trưởng thành tự lao động sinh sống, anh B và chị B1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về nợ chung, tài sản chung: do anh B và chị B1 trình bày không có, không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Tranh chấp giữa anh Trần Thanh B và chị Võ Thị Ngọc B1 là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn và nuôi con chung qui định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị B1 có hộ khẩu thường trú tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: anh Trần Thanh B và chị Võ Thị Ngọc B1 chung sống với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên được pháp luật công nhận hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, lâu dần tình cảm vợ chồng bắt đầu phai nhạt, anh B cho rằng chị B1 ghen tuông vô cớ, nên không còn tình cảm với chị B1, và đã tình cảm với người phụ nữ khác, nên xin ly hôn với chị B1. Còn chị B1 cho rằng do anh B có nhiều người người phụ nữ khác bên ngoài nên từ đó sống ly thân với chị từ năm 2021 cho đến nay. Tuy nhiên, chị B1 vẫn còn tình cảm với anh B, và vì các con nên anh B1 xin ly hôn thì chị B1 không đồng ý. Trong thời gian ly thân từ năm 2021 cho đến nay, cả hai cũng không tạo điều kiện cho nhau đẻ hàn gắn, đoàn tụ.
Xét thấy vợ chồng chung sống với nhau phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Trong thời gian chung sống giữa anh B, chị B1 thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, lâu dần tình cảm vợ chồng bắt đầu phai nhạt, mâu thuẩn chủ yếu giữa vợ chồng không còn sự tin tưởng, chung thuỷ trong hôn nhân, dẫn đến cà hai ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay. Tại phiên toà, anh B và chị B1 cũng thừa nhận mâu thuẩn chính phát sinh từ việc anh B có người phụ khác bên ngoài dẫn đến hôn nhân đỗ vỡ. Ngoài ra, từ khi vợ chồng sống ly thân với nhau cho đến nay thời gian cũng đã lâu nhưng cả hai cũng không có biện pháp nào để vợ chồng chung sống trở lại với nhau, điều đó chứng tỏ rằng mâu thuẩn giữa anh B và chị B1 đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, mặc dù chị B1 không đồng ý ly hôn với anh B, nhưng việc anh B yêu cầu ly hôn với chị B1 là có cơ sở. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Trần Thanh B được ly hôn chị Võ Thị Ngọc B1.
[2.2] Về con chung: anh B và chị B1 có 03 con chung là cháu Trần Nhật M, sinh năm 2004, Trần Nhật P, sinh ngày 26/12/2010 và Trần Khánh N, sinh ngày 25/10/2012. Cháu M đã trưởng thành, đang đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh, cháu P và cháu N đang sống cùng chị B1. Anh B đồng ý giao hai cháu P và N cho chị B1 chăm sóc nuôi dưỡng, chị B1 cũng đồng ý chăm sóc nuôi dưỡng cháu P và cháu N trong trường hợp Toà án giải quyết cho ly hôn, cháu P và cháu N cũng có nguyện vọng được sống cùng chị B1, vì từ trước đến nay chị B1 cũng chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho các cháu, các cháu được học hành và phát triển bình thường, do đó giao 02 con chung là cháu Trần Nhật P và Trần Khánh N cho chị B1 chăm sóc nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp. Cháu Nhật M đã trưởng thành tự lao động sinh sống được, chị B1 và anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về cấp dưỡng nuôi con: Công nhận sự thoả thuận giữa anh B và chị B1 về số tiền cấp dưỡng nuôi con, anh B phải cấp dưỡng mỗi tháng 5.000.000 đồng cho hai cháu Nhật P và Trần Khánh N (mỗi cháu 2.500.000 đồng/tháng), tính từ tháng 3 năm 2025 cho đến khi cháu P và cháu N đủ 18 tuổi.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: anh B và chị B1 trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét về tài sản chung, nợ chung.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/TBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội, anhTrần Thanh Bình chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.
[4] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về thủ tục tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như đã phân tích trên là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 điều 56, 81, 82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/TBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Thanh B.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thanh B được ly hôn với chị Võ Thị Ngọc B1.
- Về con chung: có 03 con chung là cháu Trần Nhật M, sinh năm 2004, Trần Nhật P, sinh ngày 26/12/2010 và Trần Khánh N, sinh ngày 25/10/2012. Giao 02 con chung là cháu Trần Nhật P, sinh ngày 26/12/2010 và Trần Khánh N, sinh ngày 25/10/2012 cho chị B1 chăm sóc nuôi dưỡng sau khi ly hôn (cháu P, cháu N đang sống cùng chị B1). Cháu Nhật M đã trưởng thành tự lao động sinh sống được, không ai yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Thanh B phải cấp dưỡng mỗi tháng 5.000.000 đồng cho hai cháu Trần Nhật P và Trần Khánh N (mỗi cháu 2.500.000 đồng/tháng) cho đến khi cháu Trần Nhật P và Trần Khánh N đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 03 năm 2025.
Anh Trần Thanh B có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc giáo dục các con chung mà không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung nợ chung: anh B và chị B1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí:
- Anh Trần Thanh B phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh B đã nộp ngày 24/10/2024 theo biên lai số 0013668 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành chuyển thành án phí hôn nhân sơ thẩm.
- Anh Trần Thanh B phải nộp thêm 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
|
Nguyễn Thuỳ Trang |
Phan Lâm Hoàng Huynh |
|
Trần Văn Triều |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
