|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST Ngày 02 tháng 4 năm 2025 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Loan;
- Ông Đinh Thế Cần.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Vũ Minh Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 212/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1979
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1978
Cùng cư trú: Thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình
(Chị T có mặt, anh S vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại phiên tòa như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn S có tự do, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 20/10/1999 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng ly thân từ tháng 02/2024 đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn S.
Về con chung: Chị T và anh S có 02 con chung là Nguyễn Văn S1, sinh ngày 05/4/2015 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 02/8/2000. Ly hôn chị T đề nghị được nuôi con chung Nguyễn Văn S1, sinh ngày 05/4/2015 và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con Nguyễn Văn T1, sinh ngày 02/8/2000 hiện đã trưởng
2
thành, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện tại chị T không có thai nghén gì. Chị T đang làm lao động tự do thu nhập 01 tháng là 8.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Văn S vắng mặt không có ý kiến trình bày.
- Tại biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Văn S1 trình bày: Cháu Nguyễn Văn S1, sinh ngày 05/4/2015 là con đẻ của chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn S. Hiện cháu S1 đang học lớp 4Đ trường Tiểu học cơ sở xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Nếu chị T, anh S ly hôn thì cháu S1 có nguyện vọng ở cùng chị Nguyễn Thị T.
- Tại biên bản xác minh với bà Phạm Thị S2 là mẹ đẻ anh Nguyễn Văn S thể hiện:
Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn S là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 20/10/1999. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại gia đình bà S2 ở xã A một thời gian sau đó vào Miền nam làm ăn và lao động tự do. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn hay không thì gia đình không năm rõ, hiện chị T và anh S đã sống ly thân. Nay chị T có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị T và anh S có 02 con chung là Nguyễn Văn S1, sinh ngày 05/4/2015 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 02/8/2000. Ly hôn đề nghị căn cứ vào nguyện vọng của con chung, giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Chị T, anh S không có tài sản chung.
Hiện anh S đi lao động tự do tại miền nam, cháu Nguyễn Văn S1 đang ở cùng bà. Gia đình đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh S và đã giao lại, thông báo cho anh S biết việc chị T xin ly hôn. Quan điểm của anh S là muốn vợ chồng đoàn tụ, không muốn ly hôn, nếu chị T kiên quyết ly hôn thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Tại biên bản xác minh với cơ sở thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện:
Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn S là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 20/10/1999. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn hay không thì cơ sở không nắm rõ. Hiện nay chị T và anh S đã sống ly thân mỗi người một nơi. Nay chị T có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, nếu hòa giải không thành thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị T và anh S có 02 con chung là Nguyễn Văn S1, sinh ngày 05/4/2015 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 02/8/2000. Ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật và theo nguyện vọng của con chung. Về tài sản chung: Cơ sở không nắm rõ.
- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng là thể hiện chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm
3
theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn S là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã A, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh S như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh S vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi dưỡng con chung và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị T, anh S được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 20/10/1999 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2024 đến nay không quan tâm đến nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc chị T đề nghị ly hôn, anh S không đồng ý ly hôn nhưng anh S cũng không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân, mỗi người sống một nơi. Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T, anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử cho chị được ly hôn anh S là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn S có 02 con chung là Nguyễn Văn S1, sinh ngày 05/4/2015 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 02/8/2000. Ly hôn chị T đề nghị được nuôi con chung Nguyễn Văn S1, sinh ngày 05/4/2015 và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con Nguyễn Văn T1, sinh ngày 02/8/2000 hiện đã trưởng thành, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu Nguyễn Văn S1 cũng có nguyện vọng ở cùng chị T. Xét thấy, nguyện vọng nuôi con chung của chị T là chính đáng, chị T có công việc, thu nhập ổn định. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất của con chung, Hội đồng xét xử cần giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi con Nguyễn Văn S1, sinh ngày 05/4/2015 ; anh Nguyễn Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn S không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
4
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn S.
- Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi con Nguyễn Văn S1, sinh ngày 05/4/2015; anh Nguyễn Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Đối với con Nguyễn Văn T1, sinh ngày 02/8/2000 hiện đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp theo Biên lai thu số 0004891 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 02/4/2025). Anh Nguyễn Văn S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Quốc Doanh |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 02/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị T và anh S
