Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 01/4/2025

V/v: “T/c ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Thanh Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Tô Thị Lành.

2. Bà Lê Thị Toan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thuỷ Sơn Phương - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Trần Thị Thắng Trinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 662/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐST- HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Lô G Hợp tác xã Q, tổ D, phường T, Thành phố P, Tỉnh Gia Lai.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đình Q, sinh năm 1983.

Địa chỉ: : Lô G Hợp tác xã Q, tổ D, phường T, Thành phố P, Tỉnh Gia Lai.

Chị T có mặt, anh Q vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Theo đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 10 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày:

- Về hôn nhân: Tôi và anh Nguyễn Đình Q tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thị trấn B, huyện P, Tỉnh Bình Định ngày 10/12/2014.

Trong quá trình chung sống tôi và anh Q thường phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau về mọi vấn đề trong sinh hoạt, kinh tế gia đình. Hiện tại đời sống chung vợ chồng không hoà hợp, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau nữa. Nay tôi nhận thấy mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Đình Q.

- Về con chung: chúng tôi có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Thiên D, sinh ngày 30/01/2016. Khi ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi con thành niên, có khả năng lao động, tự lập được.

- Về cấp dưỡng nuôi con: trước đây tôi yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đồng cho đến khi con thành niên, có khả năng lao động, tự lập được. Nay tôi không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con chung nữa.

- Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết các quan hệ này.

2. Toà án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục để triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là anh Nguyễn Đình Q. Tuy nhiên, anh Q không đến Toà án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Tại phiên toà hôm nay, bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Nguyễn Đình Q.

Tại phiên toà chị T vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện của mình.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý như sau:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Từ khi thụ lý vụ án đến nay Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng.

- Nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử; Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Đình Q. Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 01 con chung tên là Nguyễn Hoàng Thiên D, sinh ngày 30/01/2016 cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Về cấp dưỡng nuôi con: chị T không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: chị Hoàng Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: chị Hoàng Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1] Về quan hệ tranh chấp: căn cứ theo đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị T và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn anh Nguyễn Đình Q hiện nay đang cư trú tại: Lô G Hợp tác xã Q, tổ D, phường T, Thành phố P, Tỉnh Gia Lai. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Do bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong tại phiên toà đến lần thứ hai nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Nguyễn Đình Q.

[3] Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Đình Q tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thị trấn B, huyện P, Tỉnh Bình Định ngày 10/12/2014 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo nguyên đơn trình bày thì quá trình chung sống giữa vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi do bất đồng quan điểm và lối sống, vợ chồng không hoà hợp dẫn đến hiện tại cả hai người không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay chị T nhận thấy mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đình Q.

Xét thấy: mâu thuẫn giữa chị T và anh Q đã xảy ra trong thời gian dài, đến nay cả hai người không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Hiện tại, cả hai không ai có thiện chí hoặc biện pháp gì để cải thiện mối quan hệ hôn nhân, không còn tình cảm yêu thương, quý trọng lẫn nhau. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài.

Đối với bị đơn là anh Q, mặc dù đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các thủ tục để đến Tòa án tham gia tố tụng, trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị T nhưng vẫn vắng mặt. Điều này chứng tỏ anh Q không quan tâm đến việc có cần tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân với chị T hay không. Tại phiên toà, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Q. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

[4]Về con chung: chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Đình Q có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Thiên D, sinh ngày 30/01/2016. Ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi con thành niên, có khả năng lao động, tự lập được. Xét thấy nguyện vọng của chị T là chính đáng và cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung là cháu Nguyễn Hoàng Thiên D. Mặt khác, do anh Q vắng mặt tại phiên toà nên Hội đồng xét xử cũng không thể xác định được anh Q có nguyện vọng thế nào về con chung. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T về việc nuôi con chung.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: chị T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: chị Hoàng Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 4, 5, 6, 8, 9,10; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Hoàng Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Đình Q.

2. Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 01 con chung tên là Nguyễn Hoàng Thiên D, sinh ngày 30/01/2016 cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định thay đổi mức cấp dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con: chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: chị Hoàng Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai số 000605 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND TP. Pleiku;
  • - Chi cục THADS TP. Pleiku;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Thanh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger