|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HC-ST
Ngày: 14 - 02 - 2025
V/v: “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trường Du
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh Lơi
Ông Bùi Thế Huệ
Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tranh - Kiểm sát viên.
Ngày 14/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 90/2023/TLST-HC ngày 31/10/2023 về việc: “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 253/2024/QĐXXST-HC ngày 26/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1957.
Địa chỉ: Tổ Dân phố A, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị S: Luật sư Lê Thị T, Luật sư Nguyễn Thị Linh C, Luật sư Bùi Thị Thu H( đều vắng mặt), Bà Cù Thị Thanh H1 (có mặt) - Công ty L thuộc Đoàn Luật sư thành phố H.
Địa chỉ trụ sở: Thôn Đ, phường T, quận H, thành phố Hà Nội
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Thanh Hóa;
Địa chỉ: Số E đường L, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn vắng mặt
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T1 - Chủ tịch UBND thành phố S.
Người đại diện theo uỷ quyền; Ông Nguyễn Ngọc B - Phó Chủ tịch UBND thành phố S.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân tỉnh T;
Địa chỉ: Số C Đại lộ L, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh T2 - Chủ tịch UBND tỉnh T; Có đơn vắng mặt
3.2. Chi cục T6 khu vực thành phố S - Q;
Địa chỉ: Số B đường L, phường T, thành phố S, Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Bá H2 - Chi cục Trưởng. Có đơn vắng mặt
3.3. Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố S;
Địa chỉ: Tổ dân phố Y, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Mai Thanh Đ – Chủ tịch UBND phường Q. Vắng mặt
3.4. Chị Lê Thị X – sinh năm 1982
Địa chỉ:Tổ Dân phố A, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.có mặt
3.5.Chị Lê Thị T3 - sinh năm 1983
Địa chỉ:Tổ Dân phố A, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt
3.7. Anh Lê Doãn T4 – sinh năm 1986
Địa chỉ: Tổ Dân phố A, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện ngày 15/02/2023, Bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, người khởi kiện bà Nguyễn Thị S trình bày:
- Ngày 31/8/2018, UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 3675/QĐ-UBND thu hồi của vợ chồng bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 669,3m² đất ở (thu hồi nguyên thửa) tại thửa 1416, TBĐ số 19 - phường Q, thành phố S để thực Dự án đầu tư xây dựng công trình đường G với Khu K (giai đoạn 1).
- Cùng ngày 31/8/2018, UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 3698/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB đối với hộ bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công trình đường G với Khu K (giai đoạn 1).
Ngày 07/06/2022, U ban hành Quyết định số 3088/QĐ-UBND (“Quyết định 3088/QĐ-UBND") về việc giao đất ở tái định cư cho vợ chồng tôi, nội dung giao đất ở tái định cư để thực hiện Dự án Đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nối thành phố S với khu K (giai đoạn 1) (“Dự Án”), tổng 06 lô đất tái định cư gồm: lô CL 08:18 diện tích 88,0 m²; CL 08:19 diện tích 88,52 m²; CL 08:20 diện tích 88,93 m²; CL 08:04 diện tích 90,0 m²; CL 08:05 diện tích 90,0 m²; CL 08:06 diện tích 90,0 m² tại mặt bằng quy hoạch khu tái định cư X khu A, phường Q, thành phố S. Tôi đồng ý, không có ý kiến về 06 lô đất tái định cư được giao này. Sau khi nộp thuế đất theo các Thông báo của Chi cục thuế khu vực S – Quảng Xương gia đình tôi đã được UBND thành phố S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 06 thửa đất nêu trên.
Tại phần căn cứ của Quyết định 3088/QĐ-UBND nêu căn cứ Quyết định số 752/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của U (“Quyết định 752/QĐ- UBND”) về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch Khu tái định cư X khu A. Đây là căn cứ U đưa ra làm cơ sở để xác định giá đất tính tiền sử dụng đất của các lô tái định cư CL 08:18; CL 08:19; CL 08:20 cấp cho vợ chồng tôi là 7.500.000 đồng/m²; giá đất tỉnh tiền sử dụng đất của lô tái định cư CL 08:04; CL 08:05; CL 08:06 cấp cho vợ chồng tôi là 4.000.000 đồng/m².
Lý do tôi không đồng ý với nội dung căn cứ quyết định giá đất cụ thể năm 2022 (Quyết định 752/QĐ-UBND) trong Quyết định 3088/QĐ-UBND này là vì:
Thứ nhất, giá đất cụ thể năm 2022 do U phê duyệt trong Quyết định 752/QĐ-UBND là sai quy định .(tôi nêu cụ thể tại phần tiếp theo của Đơn Khởi kiện). Vì vậy, không thể lấy đó làm căn cứ của việc xác định tiền sử dụng đất cho gia đình tôi, không thể là căn cứ ban hành Quyết định giao đất số 3088/QĐ-UBND.
Thứ hai, Quyết định 3088/QĐ-UBND phải được ban hành cùng thời điểm thu hồi đất, giá đất phải được xác định tại thời điểm năm 2019 để đảm bảo nguyên tắc kịp thời, công bằng, cùng thời điểm mà pháp luật quy định. Thời điểm U thu hồi đất ở của vợ chồng tôi là năm 2018 theo Quyết định số 3675/QĐ-UBND ngày 31/08/2022; thời điểm U có phương án tái định cư tổng thể là năm 2019 theo Quyết định 5287/QĐ-UBND ngày 08/11/2019 về việc phê duyệt phương án bố trí tái định cư. Như vậy, căn cứ theo các quy định của Luật Đất đai 2013 về việc bồi thường bằng đất, giao đất tái định cư phải "kịp thời”, “trong cùng một ngày” và “tại thời điểm quyết định thu hồi" thì Quyết định 3088/QĐ-UBND về việc giao đất ở tái định cư cho vợ chồng tôi phải được ban hành năm 2018 (thời điểm gia đình bị thu hồi đất) hoặc trong năm 2019 (thời điểm U ban hành Quyết định 5287/QĐ-UBND), không phải là năm 2022. Vì vậy, giá đất cụ thể tính tiền sử dụng đất trong trường hợp này phải được xác định theo giá đất cụ thể năm 2019, được quy định tại Quyết định số 5281/QĐ-UBND ngày 08/11/2019 phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch Khu T khu A, phường Q, thành phố S, cụ thể là 4.000.000 đồng/m² đối với các lô CL 08:18; CL 08:19; CL 08:20 và 3.200.000 đồng/m² đối với các lô CL 08:04; CL 08:05; CL 08:06. Nghĩa là, không tính đến việc giá đất cụ thể năm 2022 bị xác định sai (như trình bày dưới đây), nếu chỉ xét theo quy định về thời điểm bồi thường và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở thì đã đủ để U vẫn phải xác định giá đất cụ thể mặt bằng tái định cư theo quyết định thời điểm năm 2019.
2. Thông qua Quyết định 3088/QĐ-UBND và Thông báo nộp tiền về tiền sử dụng đất của Chi cục Thuế Khu vực T6 - Q, tôi được biết Quyết định 752/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất tại mặt bằng quy hoạch Khu tái định cư X khu A. Theo đó, giá đất cụ thể Khu tái định cư X 3 khu 1 được xác định là:
- + Giá các lô đất có vị trí 1 bám đường Đại lộ N là: 7.500.000 đồng/m2;
- + Giá các lô đất có vị trí 1 bám đường Ven biển là: 7.500.000 đồng/m2; + Giá các lô đất có vị trí 1 bám đường T là: 7.500.000 đồng/m2;
- + Giá các lô đất có vị trí 1 bám đường nội bộ tuyến N1; N2; N3; N4; N5; Nó có chiều rộng lòng đường 7,5m là: 4.000.000 đồng/m2.
Tôi hoàn toàn không đồng ý với các giá đất cụ thể này, bởi vì:
Thứ nhất, giá đất này xác định sai quy định. Việc xác định giá đất cụ thể để giao đất tái định cư thực hiện Dự Án phải được thực hiện theo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất. Giá đất trong trường hợp Nhà nước giao đất tái định cư được xác định theo điểm b khoản 4 Điều 114 Luật Đất đai 2013. Điều 4 Nghị định 44/2014/NĐ-CP quy định có năm phương pháp xác định giá đất cụ thể, khoản 2 Điều 18 Nghị định 44/2014/NĐ-CP quy định trường hợp giá đất để giao đất tái định cư sẽ xác định theo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất. Và, khoản 1 Điều 18 Nghị định 44/2014/NĐ-CP quy định UBND cấp tỉnh quy định và quyết định hệ số điều chỉnh giá đất để xác định giá đất cụ thể.
Trong đó, giá đất tính tiền sử dụng đất tái định cư của tôi nếu tính đúng phải là là 4.000.000 đồng/m² đối với các lô CL 08:18; CL 08:19; CL 08:20 và 2.600.000 đồng/m² đối với các lô CL 08:04; CL 08:05; CL 08:06; không phải là 7.500.000 đồng/m² và 4.000.000 đồng/m² như cách xác định của UBND thành phố S.
Thứ hai, U áp dụng phương pháp so sánh trực tiếp kết hợp với phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất để xác định giá đất cụ thể mặt bằng tái định của Xuân P 3 khu 1 là sai quy định. Theo Quyết định giải quyết khiếu nại số 2949/QĐ-CCT ngày 30/12/2022 của Chi cục Thuế khu vực TP S - Q, tại trang 8 – phần ý kiến Phòng Tài nguyên & Môi trường thành phố S có nêu: “phương pháp để xác định giá đất cụ thể: đối với đất ở áp dụng phương pháp so sánh kết hợp Phương pháp hệ số điều chỉnh". Căn cứ Điều 8 Thông tư 36/2014/TT-BTNMT nêu rõ: “Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng kết hợp các phương pháp định giá đất quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 4 của Nghị định 44/2014/NĐ-CP để kiểm tra, so sánh, đối chiếu và quyết định giá đất.”, việc áp dụng kết hợp các phương pháp chỉ áp dụng đối với bốn phương pháp gồm: so sánh trực tiếp, chiết trừ, thu thập, thặng dư; không áp dụng kết hợp đối với phương pháp hệ số giá điều chỉnh. Nói cách khác, trong trường hợp giao đất tái định cư, giá đất cụ thể bắt buộc phải xác định theo phương pháp hệ số giá điều chỉnh. Việc U thống nhất áp dụng phương pháp so sánh trực tiếp kết hợp phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất để xác định giá đất cụ thể trong trường hợp này là trái quy định pháp luật. Từ việc áp dụng sai phương pháp xác định giá đất, UBND thành phố S đã phê duyệt giá đất cụ thể cao hơn rất nhiều so với giá đất cụ thể theo quy định pháp luật (tăng 3.500.000 đồng/m², cao gấp 1,875 lần đối với các lô CL 08:18; CL 08:19; CL 08:20 và tăng 1.400.000 đồng/m², cao gấp khoảng 1,54 lần đối với các lô CL 08:04; CL 08:05; CL 08:06). Theo đó, Chi cục T6 khu vực TP S-Q đã ban hành các Thông báo nộp tiền về tiền sử dụng đất ngày 08/06/2022, trong đó có nội dung xác định:
- (1) Lô CL 08:18: Giá đất tính tiền sử dụng đất (mục 13 Phần II Thông báo) là 7.500.000 đồng/m² và Tổng số tiền sử dụng đất phải nộp (mục 3 Phần III Thông báo) là 660.000.000 đồng.
- (2) Lô CL 08:19: Giá đất tính tiền sử dụng đất (mục 13 Phần II Thông báo) là 7.500.000 đồng/m² và Tổng số tiền sử dụng đất phải nộp (mục 3 Phần III Thông báo) là 666.900.000 đồng.
- (3) Lô CL 08:20: Giá đất tính tiền sử dụng đất (mục 13 Phần II Thông báo) là 7.500.000 đồng/m² và Tổng số tiền sử dụng đất phải nộp (mục 3 Phần III Thông báo) là 666.975.000 đồng.
- (4) Lô CL 08:04: Giá đất tính tiền sử dụng đất (mục 13 Phần II Thông báo) là 4.000.000 đồng/m² và Tổng số tiền sử dụng đất phải nộp (mục 3 Phần III Thông báo) là 360.000.000 đồng.
- (5) Lô CL 08:05: Giá đất tính tiền sử dụng đất (mục 13 Phần II Thông báo) là 4.000.000 đồng/m² và Tổng số tiền sử dụng đất phải nộp (mục 3 Phần III Thông báo) là 360.000.000 đồng.
- (6) Lô CL 08:06: Giá đất tính tiền sử dụng đất (mục 13 Phần II Thông báo) là 4.000.000 đồng/m² và Tổng số tiền sử dụng đất phải nộp (mục 3 Phần III Thông báo) là 360.000.000 đồng.
Thứ ba, Luật Đất đai 2013, Nghị định 44/2014/NĐ-CP không có bất kỳ quy định nào về việc giá đất cụ thể giao đất tái định cư tại một mặt bằng tái định cư áp dụng chung cho một dự án thu hồi đất phải được thực hiện xác định giá đất cụ thể hàng năm như cách U đã làm – năm 2019, năm 2021, năm 2022. Pháp luật chỉ có quy định về việc phải ban hành hệ số điều chỉnh giá đất hàng năm (hệ số K) (quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị định 44/2014/NĐ-CP) và việc này UBND thành phố S cũng không có thẩm quyền. Như vậy, hoàn toàn không có cơ sở pháp luật để U xác định điều chỉnh giá đất cụ thể hàng năm của các mặt bằng tái định cư cho Dự Án. Ngoài ra, về thẩm quyền quyết định giá đất cụ thể, theo khoản 3 Điều 86 Luật Đất đai 2013, UBND tỉnh T là cơ quan có thẩm quyền quyết định giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư, song UBND tỉnh T đã ủy quyền cho U thực hiện. Trong trường hợp U đã xác định giá đất cụ thể trái quy định như nêu trên, UBND tỉnh T phải liên đới chịu trách nhiệm về “kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình đã ủy quyền" (theo khoản 2 Điều 14 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015). Đó cũng là lý do tôi đưa UBND tỉnh T vào danh sách Người có nghĩa vụ liên quan.
3. Hành vi chậm bồi thường bằng đất, chậm giao đất ở tái định cư, không đảm bảo đất ở tái định cư cho người khởi kiện, không công bằng giữa những người có đất thu hồi trong cùng một dự án.
3.1. Hành vi chậm bồi thường bằng đất, chậm giao đất ở tái định cư, không đảm bảo đất ở tái định cư.
UBND thành phố S có quyết định thu hồi đất ở của tôi từ năm 2018. Tại thời điểm thu hồi đất, UBND thành phố S vẫn chưa đảm bảo đầy đủ đất ở tái định cư cho gia đình tôi. Thậm chí đến thời điểm nộp Đơn khởi kiện, hạ tầng kỹ thuật của các mặt bằng tái định cư vẫn chưa được đảm bảo, một số tuyến đường nội bộ vẫn chưa hình thành nền đường, gạch đá ngổn ngang; trong khu vực vẫn chưa được đấu nối điện, nước.
Hành vi này vi phạm các quy định sau đây:
- - Vi phạm chủ trương, đường lối của Đảng theo Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI: “Bố trí chỗ ở mới cho người có đất bị thu hồi trước khi bồi thường, giải tỏa";
- - Vi phạm nguyên tắc bồi thường về đất: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi .... tại thời điểm quyết định thu hồi đất”;
- - Vi phạm quy định “Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư” (theo khoản 3 Điều 85 Luật Đất đai 2013);
- - Vi phạm quy định “Phải bảo đảm có đất ở, nhà ở tái định cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất”. (theo khoản 1 Điều 26 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP);
- - Vi phạm quy định “Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 66 của Luật này quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày” (theo điểm a khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai 2013);
- - Vi phạm quy định “Khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền” (khoản 2 Điều 85 Luật Đất đai 2013);
- - Nguyên tắc “kịp thời” theo quy định tại khoản 3 Điều 74 Luật Đất đai 2013 về nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.
3.2. Hành vi không công bằng trong việc thực hiện tái định cư
Trước thời điểm giao đất cho tôi, UBND thành phố S đã giao đất cho hàng trăm hộ gia đình cá nhân khác. Nhưng đến năm 2022 mới giao đất cho tôi. Hành vi này vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 74 Luật Đất đai 2013. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng tại khoản 3 Điều 74 Luật Đất đai 2013 về nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.
3.3 Hành vi vi phạm quy định về áp dụng chính sách bồi thường tái định cư đối với người có công với cách mạng: Người có công với cách mạng được Đảng và Nhà nước cho phép hưởng các ưu đãi trong giao đất cả về thời điểm giao (giao sớm), vị trí giao (vị trí thuận lợi), tiền sử dụng đất (miễn/ giảm). Khoản 2 Điều 5 Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 quy định về chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng gồm có: "g) Miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất ở, chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở, công nhận quyền sử dụng đất ở, khi được mua nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước; h) Ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển; ưu tiên giao khoán bảo vệ và phát triển rừng”. Ngoài ra, khoản 2 Điều 86 Luật Đất đai 2013 quy định người có công với cách mạng được ưu tiên giao đất vị trí thuận lợi. Tuy nhiên, U đã vi phạm chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với gia đình tôi. Chồng tôi - Ông Lê Doãn T5 là thương binh 4/4, tỷ lệ thương tật 30%. Như vậy, ông T5 thuộc đối tượng được hưởng chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất song đến nay, UBND thành phố S vẫn không áp dụng chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với gia đình tôi.
Từ những nội dung trên, bà Nguyễn Thị S yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy một phần Quyết định số 752/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khuđịnh cư X phương 3 khu 1, liên quan đến các thửa đất tái định của gia đình bà Nguyễn Thị S gồm ( lô CL 08:18, lô CL 08:19, lô CL 08:20, lô CL 08:04, lô CL 08:05, lô CL 08:06)
- Hủy một phần Quyết định số 3088/QĐ-UBND ngày 07/6/2022 của U đối với bà Nguyễn Thị S, nội dung huỷ bỏ là phần căn cứ “Quyết định số 752/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khu Xuân phương 3 khu A, phường Q, thành phố S” và đề nghị UBND thànhSầm Sơn thay nội dung này bằng “Quyết định số 5281/QĐ-UBND ngày 08/11/2019 phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khuXuân phương 3 khu A, phường Q, thành phố S”
- Buộc người bị kiện là UBND thành phố S phải ra quyết định về việc hoàn trả và người có nghĩa vụ liên quan là Chi cục T6 - Q phải thực hiện hoàn trả cho người khởi kiện khoản tiền sử dụng đất chênh lệch đã thu thừa giữa giá đất cụ thể năm 2022 và giá đất cụ thể năm 2019. Tổng số tiền thiệt hại đối với cả 06 lô đất: 1.226.075.000 đồng. (Một tỷ hai trăm hai mươi sáu triệu không trăm bảy mươi năm nghìn đồng)
- Tuyên hành vi hành chính chậm bồi thường bằng đất, chậm giao đất tái định cư cho gia đình bà Nguyễn Thị S là trái quy định của pháp luật. Buộc UBND thành phố S bồi thường các thiệt hại phát sinh từ hành vi hành chính trái quy định pháp luật. Mức lãi suất 10%/năm đối với số tiền đã nộp chênh lệch tính từ ngày 06/9/2022 (ngày nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách) tạm tính đến ngày 14/02/2025(ngày xét xử sơ thẩm) số tiền 305.838.000đồng.
- Buộc Người bị kiện là U phải giải quyết chế độ miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình người có công với Cách mạng.
- Buộc Người bị kiện thanh toán các khoản thiệt hại cho Người Khởi kiện (theo Điều 23 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017)
* Công văn số 512/UBND-TNMT của người bị kiện là Ủy ban nhân dân thành phố S như sau:
1. Về việc thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ cho bà Nguyễn Thị S. và ông Lê Doãn T5: Thực hiện Quyết định số 79/QĐ-UBND ngày 09/01/2017 UBND tỉnh T về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Đầu tư xây dựng công trình đường G với khu K giai đoạn 1.
Bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 có diện tích 669,3m² (Trong đó: đất ở 548,4m²; đất trồng cây lâu năm 120,9m²), phường Q bị thu hồi thực hiện dự án Đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nối thành phố S với khu K (giai đoạn 1).
Ngày 31/08/2018, UBND thành phố S đã ban hành Quyết định số 3675/QĐ-UBND về việc thu hồi đất và Quyết định số 3698/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB đối với bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 sử dụng đất tại phường Q thực hiện dự án Đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nối S với khu kinh tế N, với diện tích thu hồi đất 669,3m² (Trong đó: đất ở 548,4m²; đất trồng cây lâu năm 120,9m²) và được bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản-vật kiến trúc, cây cối hoa màu trên đất với tổng số tiền là 4.870.631.000 đồng. (Bốn tỷ, tám trăm bảy mươi triệu, sáu trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
Căn cứ Khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013 quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất".
Tại thời điểm thu hồi đất, UBND tỉnh T đã ban hành Quyết định số 851/QĐ-UBND ngày 08/3/2018 về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nối thành phố S với khu K (giá đất của thửa đất theo Bảng giá đất là 3.000.000 đồng/m²; giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường là 6.000.000 đồng/m²).
Như vậy, UBND thành phố S đã quyết định thu hồi và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất bằng tiền được tính theo giá đất cụ thể (giá đất thị trường) cho bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 là đảm bảo theo quy định của pháp luật tại thời điểm thu hồi đất.
Ngày 05/10/2018, bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 đã đồng ý nhận toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản-vật kiến trúc, cây cối hoa màu nêu trên.
2. Về việc giao đất tái định cư cho bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5:
Căn cứ Khoản 3, Điều 108 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất”. Giá đất để thu tiền sử dụng đất là giá đất tại thời điểm nhà nước quyết định giao đất ở tái định cư.
Ngày 18/02/2022, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 752/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khu tái định cư X khu A. Ngày 07/6/2022, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 3088/QĐ-UBND về việc giao đất ở tái định cư cho bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 06 lô đất, với tổng diện tích 535,45m², gồm lô CL 08:18, diện tích 88,0m², lô CL 08:19, diện tích 88,52m², lô CL 08:20, diện tích 88,92m², ló CL 08:04, diện tích 90m², lô CL 08:05, diện tích 90m², lô CL 08:06, diện tích 90m² tại mặt bằng quy hoạch Khu tái định cư X khu A. Bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 được UBND thành phố S giao đất năm 2022, tiền sử dụng đất phải nộp tại thời điểm giao đất theo giá đất cùng thời điểm năm 2022 là đúng các quy định của pháp luật. Việc bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 được giao đất năm 2022, nhưng đề nghị tính giá đất để thu tiền sử dụng đất tái định cư theo giá đất năm 2019 là không đúng quy định hiện hành. UBND thành phố S Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xem xét, xét xử bác Đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5./.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chi cục thuế khu vực thành phố S - Q có quan điểm tại Công văn 1128/CCT-NVT ngày 10/11/2023, Công văn 1208/CCT-NVT ngày 05/12/2023; Công văn 37/CCT-NVT ngày 06/01/2025:
Căn cứ khoản 3 Điều 108 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyễn mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất";
Căn cứ Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của UBND thành phố S về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khu tái định cư Đ, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa;
Căn cứ Quyết định số 3238/QĐ-UBND ngày 13/6/2022 của UBND thành phố S về việc giao đất ở tái định cư cho bà Nguyễn Thị S có đất thu hồi tại phường Q để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nối thành phố S với Khu K (giai đoạn 1).
Thực hiện các quy định và Quyết định trên, Chi cục thuế khu vực thành phố S - Q đã căn cứ vào giá đất ở tính tiền sử dụng đất tại Quyết định phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư, diện tích đất được giao tại Quyết định giao đất ở tái định cư cho bà Nguyễn Thị S xác định và ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất là đúng quy định.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND tỉnh T và UBND phường Q: Không có quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
* Tại phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị S trình bày: Nguồn gốc thửa 1416, TBĐ số 19 có diện tích 669,3m² của gia đình bà bị thu hồi theo Quyết định số 3675/QĐ-UBND của UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hóa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY741344 do UBND huyện Q cấp cho vợ chồng bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 ngày 07/5/2015, là thửa 509 đã được UBND huyện Q cấp GCNQSD đất số 1168/QSDĐ ngày 30/8/1995 mang tên Bà Nguyễn Thị S, việc cấp GCNQSDĐ này gia đình bà không phải nộp tiền sử dụng đất. Năm 2012 UBND huyện Q thu hồi 115,6m2 để mở rộng nâng cấp đường 47. Năm 2015 bà tách diện tích còn lại cho con bà một phần diện tích và còn lại 669,3m² được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ nêu trên năm 2015.
- Người khởi kiện giữ nguyên nội dung khởi kiện; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích của người bị kiện đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử,Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án, tổ chức đối thoại, ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến tại phiên tòa sơ thẩm. Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng, chấp hành việc triệu tập và có mặt tại phiên tòa theo đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Nguyễn Thị S. Bà S là người cao tuổi nên không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; ý kiến của Kiểm sát viên và các bên đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về tố tụng:
1.1. Đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Quyết định số 752/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của UBND thành phố S về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khu tái định cư X khu A (gọi tắt là Quyết định 752/QĐ-UBND); Quyết định số 3088/QĐ-UBND ngày 07/6/2022 của UBND thành phố S về việc giao đất tái định cư cho bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 (gọi tắt là Quyết định số 3088/QĐ-UBND) và hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.
Đây là Quyết định hành chính và hành vi hành chính của cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai, là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại Điều 30, Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
1.2. Quyền khởi kiện, thời hiệu khởi kiện:
Ngày 07/6/2022 UBND thành phố S ban hành Quyết định số 3088/QĐ-UBND về việc giao đất tái định cư cho bà Nguyễn Thị S. Bà S cho rằng quyền và lợi ích hợp của bà bị xâm phạm, ngày 15/02/2023 bà nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính. Vì vậy, bà S có quyền khởi kiện và còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 115 và điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
1.3. Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự:
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện UBND tỉnh T,đại diện UBND thành phố S, Chi cục T6 khu vực thành phố S - Q có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, UBND phường Q vắng mặt lần thứ hai, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 157, Điều 158 Luật tố tụng hành chính, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người này.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S
2.1. Về trình tự thủ tục, thời hiệu, thời hạn và thẩm quyền ban hành Quyết định thu hồi, bồi thường, hỗ trợ cho hộ bà Nguyễn Thị S.
Thực hiện Quyết định số 79/QĐ-UBND ngày 09/01/2017 UBND tỉnh T về việc phê duyệt dự án Đầu tư xây dựng công trình đường G với Khu K (giai đoạn 1).
Ngày 31/8/2018, UBND thành phố S đã ban hành Quyết định số 3675/QĐ-UBND về việc thu hồi của bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 sử dụng đất tại phường Q thực hiện dự án Đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nối S với Khu K (giai đoạn 1) và Quyết định số 3698/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho gia đình bà .Theo các quyết định trên thì gia đình bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 có đất thu hồi là thửa 1416, tờ bản đồ 19 tại phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa với diện tích thu hồi đất 669,3m² (Trong đó: đất ở 548,4m²; đất trồng cây lâu năm 120,9m²) và được bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản - vật kiến trúc, cây cối hoa màu trên đất với tổng số tiền là 4.870.631.000 đồng. (Bốn tỷ, tám trăm bảy mươi triệu, sáu trăm ba mươi mốt nghìn đồng). Ngày 05/10/2018, bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 đã đồng ý và đã nhận đủ số tiền bồi thường và tiền hỗ trợ về đất, tài sản - vật kiến trúc, cây cối hoa màu trên đất theo quy định pháp luật nêu trên.
Tại khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013 quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”.
Như vậy, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 3675/QĐ-UBND và Quyết định số 3698/QĐ-UBND ngày 31/8/2018 về việc thu hồi và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB đối với hộ bà Nguyễn Thị S,ông Lê Doãn T5 là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, 52, 56 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương; các Điều 62, 66, 67, 69 Luật Đất đai năm 2013.
2.2. Về yêu cầu buộc người bị kiện là U phải ra Quyết định về việc hoàn trả và người có nghĩa vụ liên quan là Chi cục Thuế khu vực T6 - Q phải thực hiện hoàn trả cho bà S khoản tiền sử dụng đất chênh lệch đã thu thừa giữa giá đất cụ thể năm 2022 và giá đất cụ thể năm 2019; buộc UBND thành phố S bồi thường các khoản thiệt hại cho gia đình bà phát sinh từ các Quyết định hành chính, hành vi hành chính trái quy định:
Ngày 07/6/2022, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 3088/QĐ-UBND về việc giao đất ở tái định cư cho bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 tổng là 06 lô đất, với tổng diện tích 535,45m², gồm lô CL 08:18, diện tích 88,0m², lô CL 08:19, diện tích 88,52m², lô CL 08:20, diện tích 88,92m², ló CL 08:04, diện tích 90m², lô CL 08:05, diện tích 90m², lô CL 08:06, diện tích 90m² tại mặt bằng quy hoạch Khu tái định cư X khu A.
Tại phiên Toà bà Nguyễn Thị S xác nhận, đã nhận các Thông báo của của Chi cục T6 khu vực thành phố S - Q gồm: Thông báo nộp tiền sử dụng đất tương ứng với 06 thủa đất tái định cư nêu trên gồm Thông báo số 1429/TB- CCT ngày 08/6/2022 số tiền phải nộp là 660.000.000 đồng, Thông báo số 1430/TB- CCT ngày 08/6/2022 số tiền phải nộp là 663.900.000 đồng;Thông báo 1431/TB- CCT ngày 08/6/2022 số tiền phải nộp là 666.975.000. đồng, Thông báo 1432/TB- CCT ngày 08/6/2022 số tiền phải nộp là 360.000.000. đồng, Thông báo 1433/TB- CCT ngày 08/6/2022 số tiền phải nộp là 360.000.000. đồng, Thông báo 1434/TB- CCT ngày 08/6/2022 số tiền phải nộp là 360.000.000. đồng. Sau khi nhận các Thông báo trên gia đình bà đã thực hiện nộp đầy đủ số tiền theo như 06 thông báo trên và đã được UBND thành phố S, tỉnh Thanh hoá cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với cả 06 thửa đất nêu trên tại mặt bằng tái định cư Xuân phương C khu A, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Hiện nay 06 lô đất này bà đang sử dụng, chưa chuyển nhượng cho ai.
Căn cứ Quyết định số 5474/QĐ-UBND ngày 30/12/2021 của UBND tỉnh T, về việc quy định hệ số điều chỉnh giá đất năm 2022 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; Quyết định số 292/QĐ-UBND ngày 18/01/2022, về việc ủy quyền phê duyệt giá đất cụ thể để giao đất tái định cư và giá đất cụ thể để xác định giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất khi giao đất hoặc cho thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; UBND thành phố S ban hành Quyết định số 752/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của UBND thành phố S về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại Mặt bằng quy hoạch Khu tái định cư K khu A, phường Q, thành phố S;
Căn cứ Quyết định 3088 /QĐ-UBND ngày 076/2022, về việc giao đất ở tái định cư cho hộ Bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 có đất ở thu hồi tại phường Q, để thực hiện Dự án Đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nối thành phố S với Khu K (giai đoạn 1).
Chi cục T6 khu vực thành phố S - Q căn cứ khoản 1 Điều 2 Quyết định 3088/QĐ-UBND ngày 076/2022, về việc giao đất ở tái định cư cho hộ Bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 có đất ở thu hồi tại phường Q, thành phố S để Chi cục Thuế ban hành các Thông báo nộp tiền sử dụng đất nêu trên. Nội dung các Thông báo đã ghi đầy đủ, chính xác các thông tin về đất, giá tính tiền sử dụng đất (tại Mục 13 phần II Thông báo) ghi đúng giá đất ở tái định cư của các lô đất tại Quyết định phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) của UBND thành phố S để ban hành các Thông báo nộp tiền sử dụng đất cho gia đình bà Nguyễn Thị S đối với 06 ô đất tái định cư.
Về cơ sở để xác định nghĩa vụ tài chính và ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất (đất ở tái định cư) đối với hộ bà Nguyễn Thị S nêu trên, Chi cục Thuế đã thực hiện theo đúng quy định tại Quyết định số 752/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 và Quyết định số 3088/QĐ-UBND ngày 07/6/2022 của UBND thành phố S nêu trên. Do đó, Chi cục Thuế ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị S là đúng quy định của pháp luật.
UBND thành phố S tính giá đất để thu tiền sử dụng đất là giá đất tại thời điểm Nhà nước quyết định giao đất ở tái định cư (năm 2022) là đúng quy định tại khoản 3 Điều 108 Luật Đất đai năm 2013: “Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất”. Bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 được UBND thành phố S giao đất năm 2022, tiền sử dụng đất phải nộp tại thời điểm giao đất theo giá đất cùng thời điểm năm 2022 là đúng các quy định của pháp luật. Việc bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 được giao đất năm 2022, nhưng đề nghị tính giá đất để thu tiền sử dụng đất tái định cư theo giá đất năm 2019 là không đúng quy định hiện hành.
Bà S yêu cầu áp dụng Quyết định số 5281/QĐ-UBND ngày 08/11/2019 phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khu TĐC khu tái định cư X 3 khu A, phường Q, thành phố S là không có căn cứ chấp nhận.
Như vậy, bà Nguyễn Thị S khởi kiện yêu cầu hủy một phần Quyết định số 752/QĐ-UBND ngày 18/02/2022, hủy một phần Quyết định số 3088/QĐ-UBND ngày 07/6/2022 của UBND thành phố S và buộc UBND thành phố S hoàn trả lại số tiền chênh lệch giữa giá đất cụ thể năm 2022 và giá đất cụ thể năm 2019; bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính gây ra là không có căn cứ chấp nhận.
[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện buộc UBND thành phố S phải tiếp nhận hồ sơ và giải quyết chế độ miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình bà là người có công với cách mạng.
Xét thấy, ông Lê Doãn T5 (chồng bà S) là thương binh thuộc đối tượng người có công, ông T5 chết ngày 21/01/2020( BL70), trước ngày có quyết định giao đất tái định cư số 3088/QĐ-UBND ngày 07/6/2022 của UBND thành phố S . Căn cứ khoản 1 Điều 10 mục 2 chương II Nghị định 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất: “Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng được miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất thì chỉ được hoặc giảm một lần trong trường hợp: Được nhà nước giao đất để làm nhà ở hoặc được phép chuyển mục đích sử dụng đất ...”
Tại phiên Toà bà Nguyễn Thị S trình bày: Nguồn gốc thửa 1416, TBĐ số 19 có diện tích 669,3m² của gia đình bà bị thu hồi theo Quyết định số 3675/QĐ-UBND của UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hóa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY741344 do UBND huyện Q cấp cho vợ chồng bà Nguyễn Thị S và ông Lê Doãn T5 ngày 07/5/2015, là thửa 509 đã được UBND huyện Q cấp GCNQSD đất số 1168/QSDĐ ngày 30/8/1995 mang tên Bà Nguyễn Thị S, việc cấp GCNQSDĐ này gia đình bà không phải nộp tiền sử dụng đất. Năm 2012 UBND huyện Q thu hồi 115,6m2 để mở rộng nâng cấp đường 47. Năm 2015 bà tách diện tích còn lại cho con bà một phần diện tích và còn lại 669,3m² được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ nêu trên năm 2015. Như vậy, khi cấp đất lần đầu cho ông T5, bà S năm 1995 gia đình bà đã được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, không phải nộp tiền sử dụng đất. Khi nhà nước thu hồi đất gia đình bà đã được bồi thường về đất và bố trí đất tái định cư nên không thuộc trường hợp miễn, giảm tiền sử dụng đất.
[3] Về án phí: Bà S phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
* Căn cứ: Khoản 1 Điều 30; khoản 3, khoản 4 Điều 32; Điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 204; Khoản 1 Điều 206; Khoản 3 Điều 345; Khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính. Điều 74, Điều 108 Luật Đất đai năm 2013. Điểm đ Khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S về việc yêu cầu:
- - Hủy một phần Quyết định số 752/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khu tái định cư X khu A, liên quan đến các thửa đất tái định của gia đình bà Nguyễn Thị S gồm ( lô CL 08:18, lô CL 08:19, lô CL 08:20, lô CL 08:04, lô CL 08:05, lô CL 08:06)
- - Hủy một phần Quyết định số 3088/QĐ-UBND ngày 07/6/2022 của U đối với bà Nguyễn Thị S, nội dung huỷ bỏ là phần căn cứ “Quyết định số 752/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khu T khu A, phường Q, thành phố S” và đề nghị UBND thành phố S thay nội dung này bằng “Quyết định số 5281/QĐ-UBND ngày 08/11/2019 phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khu T khu A, phường Q, thành phố S”
- - Buộc người bị kiện là UBND thành phố S phải ra quyết định về việc hoàn trả và người có nghĩa vụ liên quan là Chi cục Thuế khu vực T6 - Q phải thực hiện hoàn trả cho người khởi kiện khoản tiền sử dụng đất chênh lệch đã thu thừa giữa giá đất cụ thể năm 2022 và giá đất cụ thể năm 2019. Tổng số tiền thiệt hại đối với cả 06 lô đất: 1.226.075.000 đồng. (Một tỷ hai trăm hai mươi sáu triệu không trăm bảy mươi năm nghìn đồng)
- - Tuyên hành vi hành chính chậm bồi thường bằng đất, chậm giao đất tái định cư cho gia đình bà Nguyễn Thị S là trái quy định của pháp luật. Buộc UBND thành phố S bồi thường các thiệt hại phát sinh từ hành vi hành chính trái quy định pháp luật. Mức lãi suất 10%/năm đối với số tiền đã nộp chênh lệch tính từ ngày 06/9/2022 (ngày nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách) tạm tính đến ngày 14/02/2025(ngày xét xử sơ thẩm) số tiền 305.838.000đồng.
- - Buộc Người bị kiện là U phải giải quyết chế độ miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình người có công với Cách mạng.
- - Buộc Người bị kiện thanh toán các khoản thiệt hại cho Người Khởi kiện (theo Điều 23 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017)
* Về án phí: Bà Nguyễn Thị S là người cao tuổi nên không phải nộp tạm ứng án phí, án phí hành chính sơ thẩm.
* Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc Bản án niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: -TAND cấp cao tại Hà Nội; -VKSND tỉnh Thanh Hóa; -Cục THADS tỉnh Thanh Hóa; -Đương sự; -Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trường Du |
Bản án số 20/2025/HC-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 20/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
