Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AB

TỈNH KG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/DSST

Ngày: 27-3-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AB, TỈNH KG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đen

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hoài và bà Trần Thị Mộng Lành

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều, Thư ký Tòa án nhân dân huyện AB, tỉnh KG

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện AB, tỉnh KG tham gia phiên toà: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện AB, tỉnh KG xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2025/TLST-DS, ngày 06 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26A/2025/QĐXX-ST, ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2025/QĐST-DS ngày 07/3/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần KL

Địa chỉ: Trụ sở chính: 40-42-44 Phạm Hồng T, phường Vĩnh Thanh V, Tp. RG, tỉnh KG.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M, Chủ tịch HĐQT.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V, Chức danh: Giám đốc Văn phòng đại diện Ngân hàng TMCP KL tại thành phố HCM

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Phan Hữu N, sinh năm 1989. Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ - phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP KL (có mặt).

- Đồng bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1969 và bà Thân Thị T, sinh năm 1970 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp NB, xã TYA, huyện AB, tỉnh KG

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/11/2024 của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần KL(sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Hữu N trình bày:

Ông Trần Văn T và bà Thân Thị T có vay của Ngân hàng, cụ thể như sau: Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 1796/17/HĐNT/1010-2272 ngày 11 tháng 10 năm 2017 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 1905/21/HĐTD/1010-0779 ngày 08 tháng 12 năm 2021; Số tiền vay: 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng); Mục đích vay: nuôi heo; Ngày giải ngân: 08/12/2021; Thời hạn vay: 12 tháng, ngày đến hạn: 08/12/2022; Lãi suất trong hạn: 13,8%/năm, áp dụng đối với các khế ước nhận nợ giải ngân trong vòng 03 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng này, khế ước nhận nợ giải ngân sau thời gian này, lãi suất vay bằng lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng, lãnh lãi cuối kỳ của bảng lãi suất hợp đồng tại thời điểm giải ngân cộng 3,8%/năm và không được thấp hơn lãi suất vay tối thiểu hiện hành của biểu lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân (cùng loại hình và phương thức vay); Lãi suất vay được cố định trong 03 tháng kể từ ngày giải ngân theo từng khế ước nhận nợ; Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay ngay trước thời điểm phát sinh nợ quá hạn; Lãi suất chậm trả: 10%/năm; Hình thức thanh toán: Lãi vay được trả 06 tháng một lần; Vốn vay được trả vào ngày đến hạn của hợp đồng 08/12/2022.

Tài sản thế chấp dùng để bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng nêu trên được ký kết tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn với đất số: 1796/17/HĐTC-BĐS/1010-2272 ngày 11/10/2017, được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với ông Trần Văn T và bà Thân Thị T, được văn phòng Công chứng AB công chứng ngày 11/10/2017, tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay gồm cụ thể:

Tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất tọa lạc tại Ấp NB, xã TYA, huyện AB, tỉnh KG; diện tích: 7.247 m²; mục đích sử dụng đất: đất ở nông thôn, cây lâu năm; thửa đất số: 394; Tờ bản đồ số: 6-3; thời hạn sử dụng: lâu dài (ONT), tháng 10/2043( CLN); theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: BT 109920, số vào sổ: CH 00700 do UBND Huyện AB cấp ngày: 20/02/2014, tài sản đúng tên ông Trần Văn T. Tài sản thế chấp nêu trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện AB, tỉnh KG ngày 11/10/2017.

Trong quá trình vay vốn, ông Trần Văn T và bà Thân Thị T liên tục vi phạm hợp đồng, không thanh toán nợ hết cho Ngân hàng khi đến hạn, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng ông Trần Văn T và bà Thân Thị T không có thiện chí hợp tác thanh toán nợ cho Ngân hàng và hiện tại hợp đồng đã quá hạn thanh toán nhưng ông Trần Văn T và bà Thân Thị T vẫn chưa thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký.

Tạm tính đến ngày 12/02/2025, ông Trần Văn T và bà Thân Thị T còn nợ Ngân hàng TMCP KLsố tiền cụ thể là 40.122.893 đồng (Bốn mươi triệu, một trăm hai mươi hai nghìn, tám trăm chín mươi ba đồng).

Trong quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng yêu cầu Tòa án nhân dân huyện AB xem xét, giải quyết các nội dung sau:

- Yêu cầu ông Trần Văn T và bà Thân Thị T trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 12/02/2025 là 40.122.893 đồng (Bốn mươi triệu, một trăm hai mươi hai nghìn, tám trăm chín mươi ba đồng) và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 13/02/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ.

- Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Trần Văn T và bà Thân Thị T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 1796/17/HĐTC- BĐS/1010-2272 ngày 11/10/2017 gồm tài sản sau:

Tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất tọa lạc tại Ấp NB, xã TYA, huyện AB, tỉnh KG; diện tích: 7.247 m²; mục đích sử dụng đất: đất ở nông thôn, cây lâu năm; thửa đất số: 394; Tờ bản đồ số: 6-3; thời hạn sử dụng: lâu dài (ONT), tháng 12/2043( CLN); theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: BT 109920, số vào sổ: CH 00700 do UBND huyện AB cấp ngày: 20/02/2014, tài sản đứng tên ông Trần Văn T.

Tại phiên tòa, đại diện ngân hàng vẫn giữ yêu cầu như sau: Yêu cầu ông Trần Văn T và bà Thân Thị T trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 27/3/2025 là 48.090.466 đồng (Bốn mươi tám triệu, không trăm chín mươi nghìn, bốn trăm sáu mươi sáu đồng) và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 28/3/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ. Trường hợp ông Tùng, bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì xử lý tài sản thế chấp mà các bên đã ký kết hợp đồng với nhau.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Trần Văn T, bà Thân Thị T nhưng ông bà đều không có ý kiến phản hồi và vắng mặt tại các phiên họp, hòa giải và phiên tòa nên không có lời khai tại hồ sơ vụ án.

Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn trong vụ án là Ngân hàng TMCP KLkhởi kiện đối với bị đơn ông Trần Văn T, bà Thân Thị T do vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ hợp đồng tín dụng. Căn cứ vào địa chỉ của bị đơn tại hợp đồng tín dụng, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như địa chỉ của bị đơn hiện nay thuộc địa bàn huyện AB nên Tòa án nhân dân huyện AB thụ lý giải quyết vụ việc là phù hợp với các Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

[2] Về trình tự, thủ tục tố tụng:

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các thủ tục tố tụng cho các bên đương sự trong vụ án, tuy nhiên đồng bị đơn ông Trần Văn T, bà Thân Thị T đã vắng mặt tại các phiên họp, các phiên hòa giải và tại phiên tòa. Đồng bị đơn đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 1,2 điều 227 và khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các bị đơn là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[3] Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, khế ước nhận nợ được ký kết giữa Ngân hàng với đồng bị đơn Trần Văn T, bà Thân Thị T đã đảm bảo về mặt chủ thể ký kết, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với Bộ luật dân sự, Luật các tổ chức tín dụng, có sự ràng buộc với nhau giữa các bên ký kết.

[3.1] Trên cơ sở của hợp đồng, ông Trần Văn T, bà Thân Thị T đã được giải ngân số tiền vay đúng như hợp đồng tín dụng nguyên tắc số 1976/17/HĐNT/1010-2272, hợp đồng tín dụng từng lần số 1905/21/HĐTD/1010-0779 và khế ước nhận nợ số 1905/21/KUNN.CN ngày 08/12/2021, tuy nhiên trong quá trình trả nợ thì ông Tùng, bà T chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Tại phiên tòa, Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu phía đồng bị đơn trả số tiền nợ là 48.090.466đ (Bốn mươi tám triệu, không trăm chín mươi nghìn, bốn trăm sáu mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), lãi suất là 8.090.466 đồng (Tám triệu, không trăm chín mươi nghìn, bốn trăm sáu mươi sáu đồng). Do đó, căn cứ Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc đồng bị đơn trả toàn bộ số nợ là 48.090.466₫ (Bốn mươi tám triệu, không trăm chín mươi nghìn, bốn trăm sáu mươi sáu đồng).

[3.2] Đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc tiếp tục tính lãi suất theo hợp đồng kể từ ngày 28/3/2025 cho đến khi đồng bị đơn ông Tùng, bà T thanh toán xong khoản nợ là phù hợp với Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên có cơ sở chấp nhận.

Trong vụ án này, ông Tùng, bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu về xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng. Trong trường hợp ông Tùng, bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với khoản vay phát sinh từ hợp đồng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi khoản vay nợ.

Tài sản thế chấp để đảm bảo khoản vay theo Hợp đồng thế chấp số 1796/17/HĐTC-BĐS/1010-2272 ngày 11/10/2017 là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: BT 109920, số vào sổ: CH 00700 do UBND huyện AB cấp ngày: 20/02/2014, tài sản đứng tên ông Trần Văn T, tọa lạc tại Ấp NB, xã TYA, huyện AB, tỉnh KG; diện tích: 7.247 m²; mục đích sử dụng đất: đất ở nông thôn, cây lâu năm; thửa đất số: 394; Tờ bản đồ số: 6-3; thời hạn sử dụng: lâu dài (ONT), tháng 12/2043 (CLN).

[4] Về án phí DSST: 48.090.466₫ x 5% = 2.404.523 đồng làm tròn 2.404.500 đồng (Hai triệu, bốn trăm lẽ bốn nghìn, năm trăm đồng).

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp toàn bộ số tiền án phí là 2.404.500 đồng (Hai triệu bốn trăm lẽ bốn nghìn năm trăm đồng). Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.084.000đ (Một triệu, không trăm tám mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003496 ngày 06/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện AB.

[5] Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện AB tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1,2 điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP KLđối với ông Trần Văn T, bà Thân Thị T.

Tuyên xử:

  1. Buộc ông Trần Văn T, bà Thân Thị T trả cho Ngân hàng TMCP KLsố tiền nợ tổng cộng là 48.090.466 đồng (Bốn mươi tám triệu, không trăm chín mươi nghìn, bốn trăm sáu mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng), lãi suất là 8.090.466 đồng (Tám triệu, không trăm chín mươi nghìn, bốn trăm sáu mươi sáu đồng) và lãi suất phát sinh từ ngày 28/3/2025 theo hợp đồng tín dụng số 1905/21/HĐTD/1010-0779 ngày 08/12/2021 giữa Ngân hàng TMCP KLđối với ông Trần Văn T, bà Thân Thị T cho đến khi ông Tùng, bà T thanh toán xong nợ.
  2. Về xử lý tài sản thế chấp: Tài sản thế chấp để đảm bảo khoản vay theo Hợp đồng thế chấp số 1796/17/HĐTC-BĐS/1010-2272 ngày 11/10/2017 là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: BT 109920, số vào sổ: CH 00700 do UBND huyện AB cấp ngày: 20/02/2014, tài sản đứng tên ông Trần Văn T, tọa lạc tại Ấp NB, xã TYA, huyện AB, tỉnh KG; diện tích: 7.247 m²; mục đích sử dụng đất: đất ở nông thôn, cây lâu năm; thửa đất số: 394; Tờ bản đồ số: 6-3; thời hạn sử dụng: lâu dài (ONT), tháng 12/2043 (CLN). Trong trường hợp ông Tùng, bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với khoản vay phát sinh từ hợp đồng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi khoản vay nợ.
  3. Về án phí DSST: 2.404.500 đồng (Hai triệu bốn trăm lẽ bốn nghìn năm trăm đồng).

    Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp toàn bộ số tiền án phí là 2.404.500 đồng (Hai triệu bốn trăm lẽ bốn nghìn năm trăm đồng). Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.084.000 đồng (Một triệu không trăm tám mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003496 ngày 06/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện AB.

  4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 27/3/2025, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh KG;
  • - VKSND huyện AB;
  • - Chi cục THADS huyện AB;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, HSDS (Kiều).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Đen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/DSST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AB, TỈNH KG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 20/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AB, TỈNH KG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Kl yêu cầu Thân Thị T trả nợ vay
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger