|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 20/2025/DS-ST Ngày: 04 - 6 - 2025 V/v tranh chấp đòi lại tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Lộc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tiến
Bà Bùi Thị Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Nhân – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới.
Trong ngày 04 tháng 6 năm 2025; tại Hội trường của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 243/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 12 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng đòi lại tài sản" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-DS ngày 19/3/2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 55/2025/QÐST-DS ngày 14/4/2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 75/2025/QÐST-DS ngày 13/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; địa chỉ liên hệ: Số I L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH H2; địa chỉ: Ngõ A N, thôn S, xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Quốc H1; địa chỉ: Ngõ A N, thôn S, xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Danh S, sinh năm 1992; địa chỉ: Số I L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo văn bản uỷ quyền ngày 13/11/2024 và Giấy uỷ quyền ngày 17/02/2025 và ngày 13/3/2025. Có mặt.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Quốc H1. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 11 năm 2024, được bổ sung tại bản tự khai, biên bản hoà giải nguyên đơn và đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 16/12/2021, giữa bà H và Công ty TNHH H2 có thoả thuận về việc đưa bà H đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài với tổng chi phí là 280.500.000 đồng. Bà H đã hoàn thành việc thanh toán đầy đủ số tiền với mong muốn được Công ty làm thủ tục sớm cho bà. Cả hai bên không có ký kết hợp đồng mà chỉ thoả thuận miệng có mỗi phiếu thu tiền của Công ty do người đại diện theo pháp luật ký tên – ông Trương Quốc H1.
Tuy nhiên, được gần một năm kể từ ngày bà H đã hoàn thành nghĩa vụ của mình, nhưng Công ty vẫn không thể thu xếp được việc bà H đủ điều kiện để xuất khẩu lao động. Chính vì vậy, bà H mới đi tìm hiểu và biết được Công ty đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải có giấy phép hoạt động và thật tình cờ lúc này thì bà H mới biết được việc Công ty không nằm trong danh sách các Công ty có giấy phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trên Cổng thông tin của Cục Q ngoài nước của Bộ L. Do đó, bà H mới lập tức tới Công ty và yêu cầu ông H1 phải hoàn trả ngay cho bà H toàn bộ số tiền đã nhận là 280.500.000 đồng với lý do là Công ty của ông H1 không được cấp giấy phép hoạt động trong lĩnh vực này. Đồng nghĩa với việc nếu tiếp tục thực hiện theo thoả thuận làm thủ tục đưa bà H đi làm việc ở nước ngoài của Công ty thì quyền và lợi ích hợp pháp của bà H sẽ không được bảo đảm. Trước việc biết được bản thân đã không đủ cơ sở chiếm giữ tiền của bà H được nữa, nên ông H1 đã đồng ý hoàn trả lại số tiền nêu trên cho bà H.
Để làm tin, ông H1 đã lập ra bản cam kết đề ngày 16/11/2022 và cam kết chịu trách nhiệm cá nhân tới ngày 22/11/2022 sẽ hoàn trả lại số tiền nêu trên cho bà H. Tuy nhiên, ông H1 vẫn không đủ khả năng thanh toán, nên ông H1 lại tiếp tục lập thêm một văn bản cam kết thứ hai đề ngày 23/11/2022 với sự cam kết sẽ hoàn trả số tiền đã nhận của bà H vào ngày 29/11/2022.
Phía Công ty đã trả lại cho bà H 02 lần vào ngày 10/01/2024, số tiền 30.000.000 đồng, lần 2 số tiền 20.000.000 đồng, tổng số tiền bà H đã nhận là 50.000.000 đồng.
Nay, đề nghị Toà án giải quyết như sau:
Buộc Công ty TNHH H2 trả lại cho bà H số tiền còn nợ là 230.500.000 đồng.
Tại phiên toà và tại đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 10/5/2025 và bản tự khai đề ngày 10/5/2025 bà H gửi qua đường bưu chính ngày 13/5/2025. Bà căn cứ khoản 1 Điều 280, 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự, để yêu cầu Công ty TNHH H2 trả số tiền lãi 10% năm tính từ ngày 30/11/2022 đến 04/6/2025 là 66.102.738 đồng.
* Ý kiến trình bày của đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty TNHH H2, ông H1 trình bày:
Năm 2021, bà Nguyễn Thị Thu H có đến Công ty làm giấy tờ đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc với số tiền 280.500.000 đồng và thủ quỹ của Công ty là bà Nguyễn Thị T đã nhận đủ số tiền trên. Nhưng quá trình làm giấy tờ do gặp khó khăn vì dịch Covid 19 nên bà H chưa thể làm thủ tục để đi xuất khẩu lao động được.
Quá trình chờ đợi lâu nên bà H đã xin rút hồ sơ không đi nữa và xin lấy lại tiền, phía Công ty cũng đã đồng ý.
Phía Công ty đã trả lại cho bà H 02 lần vào ngày 10/01/2024, số tiền 30.000.000 đồng, lần 2 số tiền 20.000.000 đồng, tổng số tiền bà H đã nhận là 50.000.000 đồng.
Hiện nay, Công ty xác nhận còn nợ bà H số tiền 230.500.000 đồng. Tuy nhiên, vì điều kiện đang khó khăn nên chưa thể trả được số tiền trên, phía Công ty X được trả dần cho bà H.
Về số tiền lãi bà H yêu cầu trả 66.102.738 đồng, tại phiên toà ông H1 vắng mặt nên không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì đây là vụ án "Tranh chấp đòi lại tài sản", tranh chấp phát sinh giữa cá nhân và Công ty, và bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, của Bộ luật tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới.
[2] Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập các bên đương sự đến Tòa án để tiến hành các thủ tục giải quyết vụ án đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các bên đã đến Tòa án làm bản tự khai, lập biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng các bên nguyên đơn và bị đơn không thoả thuận được về việc giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án đã ra Quyết định xét xử vụ án; Quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên toà nguyên đơn vắng mặt, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có mặt, đại diện theo pháp luật của bị đơn vắng mặt. HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vụ án.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn bà H yêu cầu bị đơn Công ty TNHH H2 (Được gọi tắt Công ty) trả số tiền gốc là 230.500.000 đồng đồng.
Vào ngày 16/12/2021, giữa bà H và Công ty có thoả thuận về việc đưa bà H đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài với tổng chi phí là 280.500.000 đồng. Bà H đã hoàn thành việc thanh toán đầy đủ số tiền cho Công ty. Qua hoà giải các bên đã thừa nhận Công ty đã trả 50.000.000 đồng còn nợ số tiền 230.500.000 đồng chưa trả. Do đó, việc thoả thuận giao tiền giữa Công ty và bà H các bên có đủ năng lực hành vi dân sự, giao dịch dân sự được xác lập, khi tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội phù hợp quy định của các Điều 105, 117, 119 Bộ luật Dân sự. Qua hoà giải ông H1 đại diện của Công ty và bà H đã đồng ý Công ty còn nợ bà H số tiền 230.500.000 đồng, buộc Công ty phải trả lại cho bà H.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn bà H yêu cầu bị đơn Công ty TNHH H2 phải trả số tiền lãi suất 10% năm từ ngày 30/11/2022 đến 04/6/2025 là 66.102.738 đồng.
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình hoà giải bà H không yêu cầu khoản tiền lãi này. Tại phiên toà và theo đơn khởi kiện bổ sung và bản tự khai đều đề ngày 10/5/2025 gửi qua đường bưu chính ngày 13/5/2025. Sau khi Toà án đã ra Quyết định xét xử ngày 19/3/2025, Quyết định hoãn phiên toà ngày 14/4/2025 và Quyết định hoãn phiên toà ngày 13/5/2025 bà H mới yêu cầu Toà án giải quyết khoản tiền này.
Do đó, việc bà H bổ sung khởi kiện để yêu cầu khoản tiền lãi là vượt quá phạm vi khởi kiện nên Toà án không xem xét giải quyết sau này có yêu cầu sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 củaNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủ banThường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sửdụng án phí, lệ phí Tòa án:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để nộp ngân Nhà nước trên tổng số tiền 230.500.000 đồng x 5% = 11.525.000 đồng
Bà H không phải chịu án phí, trả lại cho bà H số tiền 7.000.000 đồng đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật: Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H.
- Không xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H yêu cầu Công ty TNHH H2 phải trả cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền lãi tính từ ngày 30/11/2022 đến ngày 04/6/2025 là 66.102.738 đồng, do yêu cầu vượt quá phạm vi khởi kiện.
- Kể khi ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 củaNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủ banThường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sửdụng án phí, lệ phí Tòa án:
- - Buộc Công ty TNHH H2 phải chịu án phí sơ thẩm số tiền 11.525.000 đồng, để nộp ngân sách Nhà nước.
- - Bà Nguyễn Thị Thu H không phải chịu án phí, hoàn trả lại cho bà H số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp 7.000.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001542 ngày 13/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới.
Áp dụng các Điều 105, 117, 119, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, xử:
Buộc Công ty TNHH H2 phải trả cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền gốc 230.500.000 đồng (Ghi bằng chữ: Hai trăm ba mươi triệu, năm trăm ngàn đồng chẵn).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 04/6/2025, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Văn Lộc |
Bản án số 20/2025/DS-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 20/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án
