TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/DS-PT
Ngày: 20 - 02 - 2025
V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Thẩm phán:
- Bà Đoàn Thị Kiều Hương
- Ông Nguyễn Quang Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang; Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14/02/2025 và 20/02/2025 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2024/TLPT - DS ngày 05 tháng 11 năm 2024, về tranh chấp thừa kế tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 237/2024/QĐPT-DS ngày 30/12/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 39/2025/DSPT ngày 17/01/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lý Vân Q, sinh năm 1955; Nơi ĐKHKTT: C P, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Địa chỉ: E M, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Ông Lý Văn C, sinh năm 1965; Địa chỉ: Xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lý Văn C: Ông Phạm Thành C1; sinh năm: 1990; Địa chỉ: khối A, Thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lý Vân G, sinh năm 1948; Nơi ĐKHKTT: 101 – B9 T, quận H, thành phố Hà Nội; Địa chỉ: P Tòa nhà V, đường P, quận C, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Bà Lý Thị T, sinh năm 1950 và ông Nguyễn Đắc L, sinh năm 1951; Cùng địa chỉ: Số C Đ, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Lý Thanh S, sinh năm 1943; Địa chỉ: Thôn Q, xã N (hiện nay là xã N), huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa ngày 14/02/2025, văng mặt tại phiên tòa ngày 20/02/2025.
- Bà Lý Thị N, sinh năm 1957; Địa chỉ: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- Ông Lý Văn B, sinh năm 1959; Địa chỉ: Xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- Bà Lý Thị T1, sinh năm 1962; Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. Có mặt tại phiên tòa.
- Anh Trương Văn T2, sinh năm 1985; Địa chỉ: Xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Trương Văn C2, sinh năm 1987; Địa chỉ: Xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Văng mặt tại phiên tòa.
- Bà Phan Thị L1, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- Ông Lê Khắc T3, sinh năm 1950; Thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Lê Văn T4, sinh năm 1951; Địa chỉ: Thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Lê Đại N1, sinh năm 1955; Địa chỉ: Thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Văng mặt tại phiên tòa.
- Bà Trương Thị T5, sinh năm 1936; Địa chỉ: Xóm E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Bà Lê Thị L2, sinh năm 1942; Địa chỉ: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Văng mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lý Vân G: Ông Lý Văn B, sinh năm: 1959 và ông Lý Thanh B1, sinh năm: 1987; Đều cư trú: xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Trương Văn T2: Ông Lý Thanh S, sinh năm 1952; Địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa ngày 14/02/2025, vắng mặt tại phiên tòa ngày 20/02/2025.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh Trương Văn C2: ông Lý Thanh B1, sinh năm: 1987; Địa chỉ: xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị L1: Ông Phạm Thành C1; sinh năm: 1990; Địa chỉ: khối A, Thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.
* Người kháng cáo:
- Ông Lý Vân Q, sinh năm 1955; Nơi ĐKHKTT: C P, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Địa chỉ: EM, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Là: Nguyên đơn trong vụ án.
- Ông Lý Vân G, sinh năm 1948; Nơi ĐKHKTT: 101 – B9 T, quận H, thành phố Hà Nội; Địa chỉ: P Tòa nhà V, đường P, quận C, thành phố Hà Nội. Là: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
- Ông Lý Thanh S, sinh năm 1952; Địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Là: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
- Bà Lý Thị N, sinh năm 1957; Địa chỉ: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Là: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
- Ông Lý Văn B, sinh năm 1959; Địa chỉ: Xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Là: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
- Bà Lý Thị T1, sinh năm 1962; Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. Là: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
* Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/01/2023 của nguyên đơn ông Lý Vân Q, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu L3 trình bày:
Bố mẹ ông Lý Vân Q là cụ Lý Văn D, sinh năm 1919, chết năm 2013 và cụ Trương Thị K, sinh năm 1922, chết năm 2002. Quá trình chung sống hai cụ có 09 con chung là Lý Vân G, Lý Thị T, Lý Thanh S, Lý Vân Q, Lý Thị N, Lý Văn B, Lý Thị B2 (đã chết năm 1988, có chồng là Trương Văn N2, đã chết, có con là Trương Văn T2 và Trương Văn C2); Lý Thị T1 và Lý Văn C. Hai cụ không ai có con nuôi, con riêng. Quá trình chung sống hai cụ tạo lập được khối tài sản có tổng diện tích 1761m² gồm các thửa đất số 193, tờ bản đồ số 03, diện tích 282m² trong đó 200m² đất ở, 82m² đất vườn, nay tách thành 2 thửa đất số 230, diện tích 318,2m² và thừa đất số 225, diện tích 123,5m² (tờ bản đồ số 11, bản đồ địa chính dạng số); các thửa đất sản xuất nông nghiệp gồm: thửa đất số 340.4, tờ bản đồ số 01, diện tích 200m², thửa đất số 7.3, tờ bản đồ số 02, diện tích 633m², thửa đất số 225.2, tờ bản đồ số 02, diện tích 346m², thửa đất số 173.5, tờ bản đồ 03, diện tích 200m². Ngày 20/4/1996 cụ D được UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) đối với các thửa đất trên. Năm 2007 ông G bỏ tiền 250.000.000₫ và các chị em đóng góp công sức xây dựng nên nhà ở 2 tầng cho cụ D. Năm 2013 cụ D qua đời, vợ chồng ông C quản lý, sử dụng ngôi nhà đó và đồng thời là chỗ anh em con cháu đi lại thờ cúng bố mẹ, ông bà cho đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn. Cụ D và cụ K chết không để lại di chúc. Hiện GCNQSDĐ cho cụ D đang do ông Lý Thanh S giữ. Tại phiên toà ông L3 khai rằng quá trình làm nhà 2 tầng ông G bỏ 250.000.000đ, ông Q bỏ tiền toàn bộ thiết bị điện nhưng số tiền bao nhiêu thì ông Q không nói cho ông biết. Ông L3 đề nghị xác định hai thửa đất số 225, 230, tờ bản đồ số 11 và các tài sản trên thửa đất 230 là di sản của cụ D, cụ K để lại.
Nay nguyên đơn yêu cầu: Phân chia di sản thừa kế của cụ Lý Văn D và cụ Trương Thị K để lại theo pháp luật là tại thửa đất số 193, tờ bản đồ số 3, diện tích 282m² (bản đồ 299), nay là các thửa đất số 225 và 230, tờ bản đồ số 11 tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Trên thửa đất số 230 có toàn bộ công trình nhà cửa là do cụ D để lại. Nguyên đơn ông Q có nguyện vọng chia di sản trên của hai cụ cho 9 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Kỳ phần thừa kế của ông Lý Vân G, ông Lý Vân Q, ông Lý Thanh S, bà Lý Thị T1, bà Lý Thị N, ông Lý Văn B, anh Trương Văn T2 và anh Trương Văn C2 (suất thừa kế của bà Lý Thị B2) sẽ gộp lại làm tài sản chung để làm nơi sinh hoạt thờ cúng bố mẹ. Phần diện tích được sử dụng chung của những người trên đề nghị Tòa án giao thửa đất số 230, tờ bản đồ 11, diện tích 318,2m² tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An và các tài sản trên đất. Thửa đất số 225, tờ bản đồ 11, diện tích 123,2m² tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giao cho ông Lý Văn C sử dụng và ông C có trách nhiệm bù chênh lệch giá trị nếu có. Tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu chia đất nông nghiệp.
Tại đơn trình bày ngày 16/5/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông Lý Văn C trình bày:
Ông thống nhất với trình bày của nguyên đơn về họ tên, năm sinh, năm chết của cụ D, cụ K và các con chung của cụ D, cụ K.
Di sản thừa kế của cụ D và cụ K để lại là thửa đất số 193, tờ bản đồ số 3, diện tích 282m² (bản đồ 299) nay là thửa đất số 230, tờ bản đồ 11, diện tích 318,2m² và thửa đất số 225, tờ bản đồ 11, diện tích 123,5m² đều tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nhà ở xây dựng trên thửa đất số 230, tờ bản đồ 11 là do vợ chồng ông xây dựng, không phải là di sản của cụ D để lại. Khi bố mẹ ông còn sống, các anh chị em đã lập gia đình, ở nơi khác, vợ chồng ông là người trực tiếp chăm sóc, ở với ông bà cho đến khi ông bà chết. Sau khi bố mẹ chết, vợ chồng ông tiếp tục sinh sống trên thửa đất 230, tờ bản đồ số 11. Ông đồng ý chia di sản thừa kế của bố mẹ để lại là các thửa đất trên theo pháp luật. Ông có nguyện vọng được sử dụng thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11 tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Thửa đất số 225, tờ bản đồ số 11, diện tích 123,5m² giao cho các hàng thừa kế khác quản lý, sử dụng. Ông đề nghị Tòa án xem xét công sức chăm sóc bố mẹ khi còn sống là 1 suất thừa kế theo pháp luật và công sức quản lý, bảo quản di sản thừa kế là 1 suất thừa kế. Kỳ phần thừa kế ông được nhận nếu vượt quá thì ông thống nhất bù lại giá trị cho các người thừa kế khác. Đối với thửa đất số 225, tờ bản đồ số 11 diện tích 123,5m² ông đề nghị Tòa án chia theo quy định pháp luật, giao cho những người khác thuộc hàng thừa kế thứ nhất sử dụng. Đối với tài sản nhà cửa xây dựng trên thửa đất số 230, tờ bản đồ 11 theo Biên bản định giá ngày 31/7/2023 do vợ chồng ông xây dựng ông đề nghị không chia phần tài sản này vì đây không phải là di sản của bố mẹ ông để lại, giao cho vợ chồng ông sử dụng.
Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N thống nhất với trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phần thừa kế của mình xin nhận bằng hiện vật và gộp vào phần của các đương sự khác trừ ông C để làm nhà thờ chung.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 03/10/2023 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị T trình bày: Bà là con gái của cụ Lý Văn D và cụ Trương Thị K. Cha mẹ bà kết hôn thời gian nào bà không rõ. Quá trình chung sống hai cụ có 09 con chung là Lý Văn G1, sinh năm 1948, Lý Thị T, sinh năm 1950, Lý Vân Q, sinh năm 1954, Lý Thanh S, sinh năm 1952, Lý Thị N, sinh năm 1957, Lý Văn B, sinh năm 1959, Lý Thị B2, sinh năm 1960 (chết), có 2 con là Trương Văn T2, sinh năm 1982 và Trương Văn C2, sinh năm 1987; Lý Thị T1, sinh năm 1962, Lý Văn C, sinh năm 1965. Ngoài ra không có con riêng hay con ngoài giá thú. Quá trình chung sống, cụ D và cụ K tạo lập được khối tài sản là thửa đất số 193, tờ bản đồ số 03, diện tích 282m² tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An nay tách thành 02 thửa là thửa đất số 230, diện tích 318,2m² (hiện do vợ chồng ông C, bà L1 sử dụng) và thửa đất số 225, diện tích 123,5m², tờ bản đồ số 11. Hai cụ đã xây nhà trên đất nhưng hiện tại đã bị phá dỡ vào năm 2007. Năm 2007 ông C tiếp tục quản lý tài sản và xây dựng nhà mới như hiện nay. Cụ D chết năm 2013, cụ K chết năm 2002. Hai cụ chết không để lại di chúc, hiện nay ông C đang quản lý, sử dụng tài sản này. Nguồn gốc các tài sản trên thửa đất 230, tờ bản đồ số 11, diện tích 318,2m² tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An là của ai bà không biết. Nguyên đơn ông Lý Vân Q khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế của cụ D và cụ K để lại theo pháp luật, bà có ý kiến: Phần đất thừa kế của bà, bà đồng ý để lại làm nhà thờ chung, riêng phần tài sản trên đất của ai làm ra thì người đó được hưởng. Hiện nay bà đã trên 60 tuổi bà có đề nghị được miễn án phí, bà có đề nghị xét xử vắng mặt. Ngày 12/10/2023 bà T có đơn xin bổ sung (nhà và đất) trình bày: ông Lý Văn C làm ngôi nhà hiện tại, tiền của ông C và ông Lý Vân G bỏ ra làm, được sự giúp đỡ của anh em trong gia đình.
Tại đơn trình bày ngày 17/6/2024 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đắc L trình bày: ông là chồng của bà Lý Thị T (sinh năm 1950), là con rể của ông Lý Văn D (sinh năm 1917, mất năm 2013) và bà Trương Thị K (sinh năm 1922, mất 2002). Khi ông và bà T kết hôn thì sinh sống, làm việc ổn định tại thành phố V, tỉnh Nghệ An. Đến năm 2016 vợ chồng ông chuyển vào thành phố Đà Nẵng sinh sống cho đến bây giờ và không liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất đai mà bố mẹ vợ ông để lại. Ông D, bà K có 9 người con chung, họ tên và năm sinh thống nhất như các đương sự khác trình bày. Quá trình chung sống, ông D và bà K tạo lập được khối tài sản chung là: thửa đất 193, tờ bản đồ số 03, diện tích 282m² trong đó 200m² đất ở, 82m² đất vườn tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nay tách thành hai: thửa đất số 230, diện tích 318,2m² (hiện do vợ chồng ông C, bà L1 đang sử dụng) và thửa đất số 225, diện tích 123,6m² (tờ bản đồ số 11, bản đồ địa chính dạng số). Tài sản trên đất hiện nay đang do vợ chồng ông Lý Văn C và bà Phan Thị L1 sử dụng. Ông được biết, việc xây nhà là do ông C xây dựng mới hoàn toàn không liên quan đến căn nhà cũ của bố mẹ. Quá trình làm nhà ông thấy ông C thuê thợ, nghiệm thu thanh toán tiền công, tiền vật liệu xây dựng. Hai cụ xây dựng nhà trên đất nhưng hiện tại đã phá dỡ vào năm 2007. Vào năm 2007, ông Lý Văn C tiếp tục quản lý tài sản này và xây dựng nhà mới như hiện nay. Vào năm 2007 khi mẹ vợ ông mất, bố vợ còn sống và đang minh mẫn. Lúc này bố đồng ý cho em út là chú Lý Văn C được tháo dỡ nhà 04 gian bằng gỗ cấp bốn của bố mẹ để xây lại nhà mới. Việc em C làm nhà mọi người trong gia đình không ai thắc mắc hay có ý kiến gì, vì mọi người đều có gia đình, nhà cửa đầy đủ, em C ở lại với bố mẹ, chăm sóc phụng dưỡng bố mẹ nên tạo lập cơ ngơi nhà cửa và sinh sống nơi đây là hoàn toàn hợp tình, hợp lý. Tại thời điểm làm nhà, do ông rảnh rỗi thời gian nên có về chơi cũng như giúp đỡ em trong quá trình làm nhà nhiều lần, tổng cộng thời gian khoảng bao nhiêu ngày, tháng ông cũng không nhớ. Theo ông được biết, việc xây dựng nhà là do em C xây dựng mới hoàn toàn không liên quan đến căn nhà cũ của bố mẹ. Trong quá trình làm nhà ông thấy ông C thuê thợ, nghiệm thu thanh toán tiền công, tiền vật liệu xây dựng.... Để có nơi ở ổn định lâu dài, đồng thời tạo nơi ở đàng hoàng cho bố vợ ông trong những năm cuối đời. Việc này hoàn toàn đúng cho nên ông sẵn lòng giúp đỡ em mà không hề mảy may suy nghĩ hay đòi hỏi quyền lợi gì đối với căn nhà này. Mặc dù trong quá trình ông C làm nhà ông có tham gia giúp đỡ em phần nào, tuy nhiên việc này là ông giúp đỡ hoàn toàn vô tư không tính toán thiệt hơn. Do đó, ông không đòi hỏi hay yêu cầu trích trả công sức, tiền bạc liên quan đến căn nhà này.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trương Văn C2, anh Trương Văn T2 thống nhất trình bày: Anh là con ruột của bà Lý Thị B2, là cháu ngoại của ông Lý Văn D, bà Trương Thị K thuộc hàng thừa kế thứ hai khi chia di sản thừa kế của ông D, bà K theo pháp luật. Vụ việc trong gia đình anh đồng ý với nguyên đơn (ông Lý Vân Q) đã trình bày. Các anh hoàn toàn đồng ý với ông Lý Vân Q chia di sản thừa kế của ông bà để lại. Thối trả kỳ phần thừa kế tương ứng cho ông Lý Văn C mà ông C được hưởng. Phần thừa kế của các anh, các anh xin nhận và gộp lại với các dì, cậu thành tài sản nơi thờ phụng ông bà, làm nơi sinh hoạt chung của anh em con cháu. Tổng giá trị di sản thừa kế các anh đồng ý với kết quả thẩm định của Hội đồng định giá mà quý Toà lập. Các anh đề nghị ghi nhận ý kiến của các anh và giải quyết để gia đình có nơi thờ cúng, giỗ chạp cho ông, bà.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị T1, ông Lý Vân G thống nhất trình bày: Bà, ông là con ruột của ông Lý Văn D và bà Trương Thị K. Bà, ông thống nhất với trình bày của nguyên đơn, bị đơn về họ tên, năm sinh, năm chết của cụ D, cụ K và các con chung của cụ D, cụ K. Cụ D, cụ K tạo lập được một khối tài sản là diện tích nhà đất 1.761m² tại thừa 193 (nay là thửa đất 225, 230), các tờ bản đồ số 01, 02, 03 (nay là tờ bản đồ số 11) đã được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số I 524219 ngày 20/4/1996. Hiện trạng diện tích đất cụ thể như sau: trên diện tích đất ở lâu dài 200m² (nay là thừa đất 225, tờ bản đồ số 11) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn nhà mà ông D và bà K để lại hiện do ông Lý Văn C đang quản lý, sử dụng, diện tích đất 82m² (nay là thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11) theo giấy chứng nhận hiện đang được ông Lý Văn C quản lý, sử dụng, diện tích đất sản xuất nông nghiệp còn lại hiện do ông Lý Văn B canh tác. Ông Lý Văn C sau khi đi nghĩa vụ về thì ở với ông D và bà K cho đến khi hai ông bà chết. Ông D, bà K chết không để lại di chúc. Sau khi ông D chết thì gia đình xảy ra tranh chấp, các anh chị em trong gia đình cố gắng giải thích nhân nhượng vợ chồng ông C để cho gia đình được êm ấm. Nhưng bản tính tham lam và cố ý muốn chiếm đoạt toàn bộ di sản của bố mẹ để lại. Bà T1, ông G hoàn toàn đồng ý với nguyên đơn ông Lý Vân Q chia di sản thừa kế của ông D, bà K để lại chưa chia: Nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin được nhận nhà đất của ông D, bà K để lại là 282m² để làm nhà thờ cho cha mẹ và thối trả kỳ phần tương ứng cho đồng thừa kế là ông Lý Văn C, phần diện tích đất nông nghiệp giao cho ông Lý Văn B sử dụng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 31/7/2023 và tại phiên toà người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị L1 trình bày: Bà là vợ của ông Lý Văn C, bà và ông C kết hôn với nhau vào năm 1989 tại UBND xã Q. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với bố mẹ ông C là cụ Lý Văn D và cụ Trương Thị K tại thửa đất hiện nay đang tranh chấp là thửa số 225 và thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11 (bản đồ địa chính dạng số) tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Đây là di sản thừa kế của cụ D, cụ K để lại, từ khi hai cụ chết vợ chồng bà là người trực tiếp quản lý và sử dụng. Quá trình chung sống, cụ D và cụ K có nói tặng cho vợ chồng bà thửa đất trên vì vợ chồng bà chung sống với hai cụ từ khi lấy nhau. Tuy nhiên chỉ nói miệng, không có văn bản giấy tờ gì. Cụ D, cụ K chết không để lại di chúc. Quá trình chung sống toàn bộ các công trình xây dựng các tài sản trên đất theo biên bản định giá tài sản ngày 31/7/2023 do vợ chồng bà xây dựng. Tại thời điểm làm nhà ông Lý Vân G có cho vợ chồng bà số tiền 250.000.000đ, đây là số tiền ông G cho vợ chồng nên vợ chồng bà không đồng ý trả lại, ngoài số tiền 250.000.000đ, còn ông B thỉnh thoảng ra giúp vài việc lặt vặt. Quá trình làm nhà ông C là người trực tiếp thuê thợ, thanh toán các chi phí xây dựng khi làm nhà. Nhà được xây dựng từ tháng 4/2007 đến năm 2008 mới xong, khi làm nhà cụ D còn sống, đến năm 2013 cụ D mới chết. Cụ D và cụ K có 09 con chung họ tên như ông C đã trình bày. Cụ D, cụ K không ai có con nuôi, con riêng. Bà đồng ý chia di sản thừa kế theo pháp luật, bà có nguyện vọng được nhận toàn bộ thửa đất số 230, tờ bản đồ 11 và toàn bộ các tài sản trên đất. Vợ chồng bà sẽ bù lại cho các hàng thừa kế khác chênh lệnh tài sản. Bà đề nghị Toà án xem xét công sức đóng góp làm tăng giá trị quyền sử dụng đất vì vợ chồng bà đã bỏ nhiều công sức tôn tạo, cải tạo xây dựng nhà cửa, nộp đầy đủ các khoản thuế, phí trong quá trình sử dụng đất. Hiện nay vợ chồng bà không có chỗ ở nào khác ngoài thửa đất trên, các anh chị em trong gia đình đã có chỗ ở ổn định. Bà yêu cầu công sức nuôi hai cụ D, cụ K là 1 suất, công sức đóng góp làm tăng giá trị quyền sử dụng đất là 1 suất. Tổng cộng chia công sức cho vợ chồng bà là 2 suất thừa kế theo pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Lê Khắc T3, ông Lê Đại N1, ông Lê Văn T4, bà Lê Thị L2, bà Trương Thị T5 thống nhất trình bày: Các ông bà là con chung, con riêng của ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị X. Nguồn gốc thửa đất số 225, tờ bản đồ số 11 (bản đồ số) tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An là do bố mẹ ông, bà quản lý, sử dụng từ thời ông bà cố đến năm 1967 thì di dân lên xã Q khai hoang lập nghiệp. Khi bố mẹ ông bà sử dụng thửa đất đó chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi bố mẹ ông bà lên xã Q lập nghiệp cũng không biết có bàn giao lại đất bằng văn bản cho UBND xã không, thời điểm đó cũng không bán cho ai khác. Sau đó gia đình nghe nói UBND xã Q đã giao đất cho gia đình ông Lý Văn D. Nay ông Lý Vân Q yêu cầu chia di sản thừa kế đối với thửa đất trên thì ông bà đồng ý, không có ý kiến gì, không có liên quan với thửa đất trên. Do điều kiện ở xa, sức khoẻ yếu nên các ông bà xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà.
Người làm chứng: Ông Hồ Ngọc H, ông Phan Văn S1, ông Nguyễn Văn Q1, ông Trương Văn Đ1, ông Nguyễn Xuân L4, bà Vũ Thị T6 thống nhất trình bày: Khoảng năm 2007 ông Lý Văn C ở xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An là người trực tiếp thuê, trao đổi làm việc, thanh toán tiền cho các ông, bà trong quá trình xây dựng ngôi nhà 02 tầng.
Người làm chứng bà Lê Thị C3 trình bày: Bà có thửa đất phía Tây giáp với thửa đất của ông C, bà L4 hiện nay đang ở. Bà L4, ông C ở trên thửa đất của ông D (bố đẻ ông C) từ trước đến nay, giữa hai gia đình không có tranh chấp về ranh mốc giới. Khi ông C xây nhà vào năm 2007 có mời chính quyền địa phương, ông bà không nhớ rõ là ai vì thời gian cũng lâu rồi và các hộ liền kề ra chỉ mốc giới để tránh việc tranh chấp sau này, khi đó chỉ nói miệng với nhau và không có lập biên bản. Quá trình làm nhà bà chủ yếu thấy ông C, bà L4 trông coi vì thời điểm đó ông D còn sống, ông C, bà L4 ở chung với ông D. Thỉnh thoảng bà thấy có một số anh chị em đi đi về về trông ngó. Không thấy ai ở đó thường xuyên, thỉnh thoảng thấy ông G, khi thấy ông Q, khi thấy ông S.
Người làm chứng ông Nguyễn Hữu Đ2 trình bày: Gia đình ông ở sát mốc phía Nam nhà ông C. Quá trình sinh sống giữa hai gia đình không có mâu thuẫn gì cả. Năm 2007 ông C làm nhà có gọi các gia đình liền kề nhau để xác định, sau này khỏi tranh chấp. Các gia đình xác định với nhau bằng miệng không có biên bản gì, từ khi làm nhà xong giữa hai gia đình không có tranh chấp về ranh giới. Thỉnh thoảng ông có thấy ông G, ông S, ông L có mặt ở đó. Ngoài ông C bà L4, ông không thấy ai ở đó thường xuyên, lâu dài trong quá trình xây dựng căn nhà 2 tầng hiện nay ông C đang ở.
Người làm chứng ông Trương Văn H1 trình bày: ông là xóm trưởng từ năm 2008 đến nay, ở cùng xóm và gần với gia đình ông Lý Văn C. Trong quá trình gia đình ông C bà L4 xây dựng nhà vào năm 2007, ngoài vợ chồng ông C thì thỉnh thoảng ông có thấy một vài anh em trong gia đình có mặt ở đó, còn việc anh em trong gia đình có mặt ở đó làm gì thì ông không biết. Từ khi ông C bà L4 ở trong ngồi nhà đó và luôn thực hiện đầy đủ các khoản đóng góp cho địa phương liên quan đến thửa đất. Vợ chồng ông C, bà L4 đóng góp nhiều công sức chăm sóc bố mẹ già.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, biên bản định giá ngày 31/7/2023 như sau:
Thửa đất số 193, tờ bản đồ số 03, diện tích 282m² trong đó 200m² đất ở, 82m² đất vườn tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Ngày 20/4/1996 cụ D được UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay là thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11, diện tích 318,2m² (hiện do vợ chồng ông C, bà L4 đang sử dụng) tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Thửa đất có kích thước tứ cận: Phía Bắc giáp đường xóm dài 2,49m + 9,08m + 1,35m. Phía Nam giáp thửa đất số 235, tờ bản đồ 11 do ông Nguyễn Hữu Đ2 sử dụng dài 11,91m, giáp thửa đất 163 dài 0,58m + 3,06m. Phía Đông giáp đường bê tông xóm dài 21,93m + 1m. Phía Tây giáp thửa đất 266 do anh Phạm Văn M sử dụng dài 21,2m, giáp đường bê tông xóm dài 0,49m. Thửa đất có giá trị đất ở: 3.000.000đ/m², đất trồng cây hàng năm: 1.500.000đ/m².
Thửa đất số 225, diện tích 123,5m² tờ bản đồ số 11 (bản đồ địa chính dạng số) có kích thước tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất 217, tờ bản đồ số 11 dài 11,42m. Phía Nam giáp đường bê tông xóm dài 1,52m + 0,66m + 10,19m + 0,39m + 0,42m + 0,67m. Phía Đông giáp đường bê tông dài 8,65m. Phía Tây giáp thửa đất 221, tờ bản đồ 11 dài 0,44m + 10,42m. Thửa đất có giá trị đất ở: 3.000.000đ/m², đất trồng cây hàng năm: 1.500.000đ/m².
Các tài sản trên thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11, diện tích 318,2m² gồm:
- 01 nhà chính hai tầng, nền lát gạch liên doanh, tường xây gạch, quét sơn 2 mặt, mái lợp ngói, diện tích xây dựng 103m² trị giá 820.000.000đ;
- 01 nhà bếp nền láng vữa xi măng, tường xây đá, quét nước xi măng, mái lợp ngói, diện tích 20,64m² trị giá 12.000.000đ;
- Sân láng vữa xi măng kết hợp lát gạch tổng diện tích 87,73m² trị giá 2.600.000đ;
- Mái tôn diện tích 40,29m² trị giá 3.800.000đ;
- Cổng gồm 3 trụ cổng kích thước 40cm x 40cm x 3m, mái đổ bê tông lợp ngói, cổng bằng sắt hộp, tổng giá trị 4.400.000đ;
- Tường bao:
Đoạn tường phía Đông Nam: tường xây gạch (dài 6,25m, cao 85cm) + (1,1m, cao 2,1m), phần hoa sắt làm bằng sắt vuông (2,26m x 2 cái), 6 trụ tường xây gạch tổng trị giá 1.200.000đ;
Đoạn tường phía Đông Bắc: tường xây gạch (9,9m x 0,85m) + (1,1m x 2,1m), phần hoa sắt làm bằng sắt vuông (2,26m x 4 cái), 6 trụ tường xây gạch; Tường xây sò giáp ngõ phía sau dài 9,1m cao 1,3m, 42 con tiễn. Tổng giá trị 3.500.000đ.
- 02 cây bưởi trị giá 350.000đ;
- 02 giếng đào, ghép thành bê tông (01 giếng nằm trên thửa 225, 01 giếng nằm trên thửa 230) trị giá 1.000.000đ/giếng.
- 01 bể nước nằm trong khuôn viên nhà hai tầng, thể tích 7m³, thành xây gạch trị giá 7.900.000đ.
Tại Văn bản số 11/TB-UBND ngày 03/01/2024 của Ủy ban nhân dân xã Q xác định: Gia đình ông Lý Văn D được UBND huyện Q cấp GCNQSD đất có tổng diện tích 1661m² gồm 200m² đất ở, 82m² đất vườn tại thửa đất số 193, tờ bản đồ số 3 (bản đồ 299) và 1379m² đất sản xuất nông nghiệp. Thửa đất số 193, tờ bản đồ số 3 (bản đồ 299), diện tích 282m² gồm 200m² đất ở và 82m² đất vườn nay là thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11 (bản đồ số), diện tích 318,2m² gồm 200m² đất ở tại nông thôn và 118,2m² đất trồng cây lâu năm. Diện tích tăng 36,2m² từ bản đồ số so với bản đồ 299 là đất trồng cây lâu năm, nguyên nhân do đo đạc bản đồ qua các thời kỳ, đất sử dụng ổn định phù hợp với quy hoạch đất ở tại địa phương, không lấn chiếm. Ngoài thửa đất trên, gia đình ông D còn có diện tích nằm trong thửa đất số 189, tờ bản đồ số 3 do mua của gia đình bà Đ cùng xóm. Theo bản đồ số hiện nay là thừa 225, tờ bản đồ số 11, diện tích 123,5m² ghi là đất ở nông thôn, Đây là thừa đất thuộc di sản của ông Lý Văn D và bà Trương Thị K có được do nhận chuyển nhượng nhưng chưa được cấp GCNQSD đất. Theo bản đồ 299 đo đạc năm 1982 phản ánh thửa đất số 193 và 189 là hai thửa riêng biệt.
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 5 Điều 26; Các Điều 35, 39, 147, 227, 228, Điều 244, 271, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự:
Căn cứ vào Điều 609, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 652, 660 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 166, Điều 167 Luật đất đai năm 2013.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 26, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lý Vân Q.
Phân chia quyền sử dụng thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11, diện tích 318,2m² trong đó 200m² đất ở, 118,2m² đất trồng cây lâu năm (bản đồ địa chính dạng số) tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An trị giá 777.300.000₫ (Bảy trăm bảy mươi bảy triệu ba trăm nghìn đồng). Và quyền sử dụng thửa đất 189, tờ bản đồ số 3 (bản đồ 299) nay là thửa đất số 225, tờ bản đồ số 11, diện tích 123,5m² đất ở nông thôn tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An trị giá 370.800.000₫ (Ba trăm bảy mươi triệu tám trăm nghìn đồng) theo pháp luật.
Giao cho ông Lý Văn C sử dụng phần đất có diện tích 174,1m² trong đó 100m² đất ở và 74,1m² đất trồng cây hàng năm trị giá 411.150.000₫ (Bốn trăm mười một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) thuộc thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11 tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An có vị trí kích thước:
Phía Bắc giáp đường xóm dài 2,49m + 9,08m + 1,35m;
Phía Nam giáp phần đất còn lại thuộc thửa 230 kích thước 14,16m;
Phía Đông giáp đường bê tông xóm kích thước 11,3m + 1,0m;
Phía Tây giáp thửa đất số 266 do anh Nguyễn Văn M1 sử dụng kích thước 12,32m, giáp đường xóm 0,49m.
Giao cho ông Lý Văn C và bà Phan Thị L1 được sử dụng, sở hữu các tài sản trên đất gồm: 01 nhà chính hai tầng, nền lát gạch liên doanh, tường xây gạch, quét sơn 2 mặt, mái lợp ngói, diện tích xây dựng 103m² trị giá 820.000.000đ; sân láng vữa xi măng kích thước chiều rộng 0,5m, chiều dài 6,8m, diện tích 3,4m², sân lát gạch kích thước rộng 2,86m, dài 8,03m diện tích 23m² tổng trị giá 792.000đ; 01 phần mái tôn kích thước rộng 0,65m, dài 6,8m diện tích 4,42m² trị giá 417.000đ; 01 trụ cổng trị giá và phần mái cổng tương đương trị giá 1.450.000đ; Đoạn tường phía Đông Bắc: tường xây gạch (9,9m x 0,85m) + (1,1m x 2,1m), phần hoa sắt làm bằng sắt vuông (2,26m x 4 cái), 6 trụ tường xây gạch; Tường xây sò giáp ngõ phía sau dài 9,1m cao 1,3m, 42 con tiễn, tổng giá trị 3.500.000₫;
Giao cho ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2, anh Trương Văn C2 được sử dụng chung phần diện tích 114,1m² trong đó 100m² đất ở và 14,1m² đất trồng cây hàng năm thuộc thửa đất 230 trị giá 321.150.000₫ (ba trăm hai mươi mốt triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). Cụ thể: Ông Q, ông G, ông S, ông B, bà N, bà T1 mỗi người được hưởng 14,2625m² (trong đó: đất ở: 12,5m² đất ở, 1.7625m² đất trồng cây hàng năm), tương ứng mỗi người được hưởng là 40.143.000,750₫. Anh T2, anh C2 mỗi người được hưởng 7,13m² (trong đó: 6.25m² đất ở, 0.88m² đất trồng cây hàng năm), tương ứng mỗi người được hưởng là 20.072.000đ. Vị trí kích thước:
Phía Bắc giáp phần đất giao cho ông C sử dụng kích thước 14,16m;
Phía Nam giáp thửa đất 235 do ông Nguyễn Hữu Đ2 sử dụng kích thước 11,91m, giáp thửa đất số 163 do kích thước 0,58m + 3,06m;
Phía Tây giáp thửa đất số 266 do anh Nguyễn Văn M1 sử dụng kích thước 8,88m;
Phía Đông giáp đường bê tông xóm kích thước 10,63m.
Giao cho ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2, anh Trương Văn C2 được sở hữu chung các tài sản trên thửa đất trên gồm: 01 nhà bếp nền láng vữa xi măng, tường xây đá, quét nước xi măng, mái lợp ngói, diện tích 20,64m² trị giá 12.000.000đ; Đoạn tường phía Đông Nam: tường xây gạch (dài 6,25m, cao 85cm) + (1,1m, cao 2,1m), phần hoa sắt làm bằng sắt vuông (2,26m x 2 cái), 3 trụ tường xây gạch tổng trị giá 1.200.000đ; 02 cây bưởi trị giá 350.000đ; 01 giếng đào, ghép thành bê tông trị giá 1.000.000đ, phần sân láng vữa xi măng kích thước chiều dài 14,16m, chiều rộng 5,3m diện tích 36,04m² trị giá 3.399.000đ; phần cổng gồm: 02 cánh cổng bằng sắt hộp, mái đổ bê tông lợp ngói, 01 trụ cổng tổng trị giá 2.950.000đ. Tổng giá trị các tài sản trên phần đất trên là 21.490.000₫ (Hai mươi mốt triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng). Cụ thể: Ông Q, ông G, ông S, ông B, bà N, bà T1 mỗi người được hưởng 3.686.250₫ (Ba triệu sáu trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi đồng). Anh T2, anh C2 mỗi người được hưởng 1.843.125đ (Một triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn một trăm hai mươi lăm đồng).
Tạm giao cho ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2, anh Trương Văn C2 được sử dụng chung thửa đất số 225, tờ bản đồ số 11, diện tích 123,5m² đất ở trị giá 370.500.000đ. Cụ thể: Ông Q, ông G, ông S, ông B, bà N, bà T1 mỗi người được hưởng 15,4375m² đất ở, tương ứng mỗi người được hưởng là 46.312.000₫ (Bốn mươi sáu triệu ba trăm mười hai nghìn đồng). Anh T2, anh C2 mỗi người được hưởng 7,71875m² đất ở), tương ứng mỗi người được hưởng là 23.156.000₫ (Hai mươi ba triệu một trăm năm mươi sáu nghìn đồng). Giao cho ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2, anh Trương Văn C2 được sở hữu chung 01 giếng đào ghép thành bê tông trị giá 1.000.000đ. Cụ thể: Ông Q, ông G, ông S, ông B, bà N, bà T1 mỗi người được hưởng 125.000đ (Một trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Anh C2, anh T2 mỗi người được hưởng 62.500₫ (Sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng).
Vị trí thửa đất như sau:
Phía đông: Giáp đường xóm dài: 8,65m + 1,52m
Phía tây: giáp thửa đất số 221, tờ bản đồ số 11 dài: 10,42m + 0,44m
Phía Nam: Giáp đường xóm dài 0.42m + 0,67m+0,39m+10,19m + 0,66m
Phía bắc: Giáp thửa đất 217, tờ bản đồ số 11 dài 11,42m.
Ông Lý Văn C có nghĩa vụ giao lại cho ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2, anh Trương Văn C2 giá trị kỳ phần thừa kế chênh lệch là 118.590.000₫ (ông Q, ông G, ông S, ông B, bà N, bà T, bà T1 mỗi người được nhận 22.699.000đ; anh T2, anh C2 mỗi người được nhận 11.349.000₫).
Ông Q, ông G, ông S, ông B, bà N, bà T, bà T1 mỗi người được nhận 22.699.000đ (hai mươi hai triệu sáu trăm chín mươi chín nghìn đồng); anh T2, anh C2 mỗi người được nhận 11.349.000₫ (Mười một triệu ba trăm bốn mươi chín nghìn đồng) do ông C giao lại.
Ông Q, ông G, ông S, ông B, bà N, bà T, bà T1 mỗi người có nghĩa vụ giao lại cho ông C, bà L1 số tiền 2.686.000₫ (Hai triệu sáu trăm tám mươi sáu nghìn đồng), anh T2, anh C2 mỗi người giao lại số tiền 1.343.000đ (Một triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn đồng) cho ông C, bà L1 là giá trị tài sản trên đất được nhận.
Ông C và bà L1 được nhận số tiền 18.802.000₫ (Mười tám triệu tám trăm linh hai nghìn đồng) do ông Q, ông G, ông S, ông B, bà N, bà T, bà T1 và được nhận số tiền 2.686.000₫ (Hai triệu sáu trăm tám mươi sáu nghìn đồng) do anh T2 và anh C2 giao lại.
Các đương sự có nghĩa vụ giao cho nhau quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản được nhận.
Đương sự có quyền và nghĩa vụ đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Đình chỉ xét xử yêu cầu về chia thừa kế đất nông nghiệp.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/7/2024, nguyên đơn ông Lý Vân Q có đơn kháng cáo với nội dung: bản án sơ thẩm không phản ánh đầy đủ và khách quan toàn bộ vụ việc, trong quá trình xét xử sơ thẩm chưa thu thập, chưa xem xét đầy đủ các chứng cứ chứng minh trong vụ án dẫn đến phán quyết không phù hợp với quy định của pháp luật; đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu; chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để vụ án được giải quyết theo đúng quy định.
Ngày 10/9/2024, nguyên đơn ông Lý Vân Q có đơn kháng cáo bổ sung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An vì các lý do sau đây:
Về tố tụng: Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu không xem xét đầy đủ, khách quan chứng cứ, lời khai do các bên đưa ra. Lời khai người làm chứng của bị đơn có nhiều dấu hiệu sai sự thật, bị làm giả, nhưng Toà chưa xác minh làm rõ. Hội đồng xét xử hoàn toàn dựa vào đề xuất của Kiểm sát viên để đưa ra phán quyết. Chánh án Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu đã từ chối mà không giải quyết thoả đáng yêu cầu thay đổi thẩm phán, chủ toạ phiên toà giải quyết vụ án.
Về nội dung:
+ Về quyền sở hữu nhà và tài sản trên đất: Tại Biên bản hoà giải ngày 27/11/2020, bản thân ông Lý Vân C4 đã ký vào biên bản hoà giải thừa nhận ngôi nhà 2 tầng trên thửa đất số 193, tờ bản đồ số 3 là tài sản thừa kế của cụ Lý Văn D và cụ Trương Thị K để lại. Ông C4 không đưa ra được bằng chứng nào về việc được gia đình đồng ý cho xây nhà cũng như một mình ông C4 đã bỏ tiền và công sức để xây nhà. Toà sơ thẩm chưa xem xét phần đóng góp của ông Lý Vân G vào ngôi nhà, kết luận số tiền 250.000.000 đồng là tiền ông G cho ông C4 để xây nhà là không đúng.
+ Về quyền sử dụng đất: Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu phân chia cho ông C4 thêm một kỳ phần thừa kế là chưa đủ căn cứ thuyết phục; tính toán sai giá trị phần đất giao cho ông C4; giao cho ông C4 sử dụng diện tích đất bằng hơn 4 lần kỳ phần thừa kế là vô lý; băm nát đất hương hoà của gia đình các ông bà; gây khó khăn cho việc sử dụng chung, mặc dù 8/9 thành viên thuộc hàng thừa kế thứ nhất đồng ý nhập tài sản làm sở hữu chung để thờ cúng ông bà, bố mẹ và con cháu sử dụng.
Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm:
Công nhận căn nhà 2 tầng trên thửa đất 230, diện tích 318,2m² là di sản thừa kế của bố mẹ ông là ông Lý Văn D và bà Trương Thị K. Công nhận và tính toán phần đóng góp của ông Lý Vân G vào giá trị ngôi nhà và các tài sản trên đất.
Xác định đúng kỳ phần thừa kế của ông Lý Văn C theo pháp luật.
Giao căn nhà 2 tầng và thửa đất 230, diện tích 318,2m², tờ bản đồ số 11 tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An cho 8 anh em ông gồm ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2 và anh Trương Văn C2. Để làm nhà sinh hoạt chung và thờ cúng ông bà, bố mẹ. Các đồng thừa kế có trách nhiệm đền bù cho ông C giá trị chênh lệch so với kỳ phần thừa kế ông C được nhận.
Giao cho ông Lý Văn C thừa đất số 225, tờ bản đồ 11, diện tích 123,2m² tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Ông C có trách nhiệm bù giá trị chênh lệch so với kỳ phần thừa kế chia cho các đồng thừa kế nếu có.
Đề nghị Toà phúc thẩm cho cơ quan chức năng xác minh, thẩm định chữ viết, chữ ký của một số nhân chứng ông C cung cấp mà các ông bà phát hiện giả mạo. Đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Lý Văn C với hành vi lừa đào việc khai báo dẫn đến toà sơ thẩm nhận định không khách quan trong bản án sơ thẩm.
Ngày 03/8/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lý Vân G kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An huỷ bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu; xem xét, giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm để ra phán quyết theo hướng:
Công nhận căn nhà 2 tầng trên thửa đất 230, diện tích 318,2m² là di sản thừa kế của bố mẹ ông là ông Lý Văn D và bà Trương Thị K. Trong trường hợp Toà không đồng ý, công nhận và tính toán phần đóng góp của ông Lý Vân G vào giá trị ngôi nhà và các tài sản trên đất.
Giao căn nhà 2 tầng và thửa đất 230, diện tích 318,2m², tờ bản đồ số 11 tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An cho 8 anh em ông gồm ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2 và anh Trương Văn C2. Các đồng thừa kế có trách nhiệm đền bù cho ông C giá trị chênh lệch so với kỳ phần thừa kế ông C được nhận.
Giao cho ông Lý Văn C thửa đất số 225, tờ bản đồ 11, diện tích 123,2m² tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Ông C có trách nhiệm bù giá trị chênh lệch so với kỳ phần thừa kế chia cho các đồng thừa kế nếu có.
Ngày 06/8/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lý Thị T1, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, ông Lý Thanh S cũng kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Tại các đơn kháng cáo của ông Lý Vân G, bà Lý Thị T1, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, ông Lý Thanh S đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giải quyết:
Công nhận căn nhà 2 tầng trên thửa đất 230, diện tích 318,2m² là di sản thừa kế của bố mẹ các ông bà là ông Lý Văn D và bà Trương Thị K. Công nhận và tính toán phần đóng góp của ông Lý Vân G vào giá trị ngôi nhà và các tài sản trên đất.
Xác định lại kỳ phần thừa kế của ông Lý Văn C phù hợp với pháp luật.
Giao căn nhà 2 tầng và thửa đất 230, diện tích 318,2m², tờ bản đồ số 11 tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An cho 8 anh em ông bà gồm ông Lý Vân Q. ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2 và anh Trương Văn C2. Các đồng thừa kế có trách nhiệm đền bù cho ông C giá trị chênh lệch so với kỳ phần thừa kế ông C được nhận.
Giao cho ông Lý Văn C thửa đất số 225, tờ bản đồ 11, diện tích 123,2m² tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Ông C có trách nhiệm bù giá trị chênh lệch so với kỳ phần thừa kế chia cho các đồng thừa kế nếu có.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An có Quyết định số 751/QĐ-VKS-DS kháng nghị phúc thẩm một phần (chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất) đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An vì cho rằng quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm:
Không giải quyết yêu cầu của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà các đương sự đều thừa nhận bà Phan Thị L1 kết hôn với ông Lý Văn C năm 1989, sau khi kết hôn bà L1, ông C sống cùng hai cụ trên thửa đất tranh chấp, sau khi hai cụ chết ông C, bà L1 tiếp tục quản lý sử dụng thửa đất cho đến nay. Bà L1 yêu cầu xem xét công sức quản lý, tôn tạo làm tăng giá trị sử dụng đất. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết yêu cầu của bà L1 là không đúng quy định của pháp luật, ảnh hưởng quyền lợi ích hợp pháp của bà L1.
Phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất không đúng quy định của pháp luật.
Bản án sơ thẩm quyết định chia di sản thừa kế đối với thửa đất 230, tờ bản đồ số 11, diện tích 318,2m² nhưng tổng diện tích thừa đất Bản án sơ thẩm giao cho các đồng thừa kế chỉ là 288,2m² (thiếu 30m² đất trồng cây lâu năm), nên dẫn đến kỳ phần thừa kế của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được hưởng, được giao không đúng.
Bản án sơ thẩm nhận định và quyết định kỳ phần thừa kế của ông C được nhận là 02 suất thừa kế trị giá 229.560.000 đồng và giao cho ông C phần diện tích đất có tài sản 174,1m² có trị giá 411.150.000 đồng. Như vậy, kỳ phần ông C được giao vượt quá kỳ phần được hưởng là 181.590.000 đồng, nhưng Bản án sơ thẩm chỉ quyết định buộc ông C phải trích trả kỳ phần vượt quá cho bị đơn và các đồng thừa kế số tiền 118.590.000 đồng là không đúng.
Quyết định giao tài sản trên đất không đúng với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày 31/7/2023.
Theo Biên bản thẩm định, Biên bản định giá tài sản thì trên các thửa đất tranh chấp có sân láng vữa xi măng kết hợp lát gạch tổng diện tích 87,73m² trị giá 2.600.000 đồng nhưng tổng diện tích sân bản án giao cho các đồng thừa kế chỉ là 62,44m², trị giá 4.191.000 đồng là không chính xác. Tương tự, đối với mái tôn có diện tích 40,29m², trị giá 3.800.000 đồng nhưng bản án sơ thẩm chỉ giao cho ông C, bà L1 phần mái tôn kích thước rộng 0,65m, dài 6,8m, diện tích 4,42m² trị giá 417.000 đồng mà không nhận định, quyết định mái tôn đã được thẩm định, định giá có diện tích 40,29m², trị giá 3.800.000 đồng hiện nay còn hay không và phần diện tích giao cho bà L1, ông C có nằm trong tổng diện tích 40,29m² là chưa đầy đủ.
Gắn liền với ngôi nhà 02 tầng còn có 01 bể nước, thể tích 7m³, thành xây gạch trị giá 7.900.000 đồng nhưng Bản án sơ thẩm không giao cho ai được quyền sử dụng, sở hữu là bỏ sót tài sản.
Mặt khác, các tài sản Bản án sơ thẩm quyết định giao cho ông C, bà L1 được quyền sở hữu, sử dụng theo Biên bản định giá tài sản ngày 31/7/2023 được toạ lạc trên thửa đất số 225, tờ bản đồ số 11 nhưng Bản án giao các tài sản trên cho ông C, bà L1 được toạ lạc trên thửa đất 230 là không chính xác, gây khó khăn cho công tác thi hành án.
Giải quyết án phí không đúng quy định của pháp luật
Quá trình giải quyết vụ án ông C có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm với lý do là sĩ quan quân đội nhân dân đã nghỉ hưu và đã có nhiều thành tích trong công tác nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2020 thì ông C không thuộc trường hợp được áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 13/12/2016 nhưng bản án sơ thẩm nhận định ông C là người có công với cách mạng và quyết định miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông C là không đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm, áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm theo hướng đã phân tích ở trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Lý Vân Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lý Thị T1, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, ông Lý Thanh S; người đại diện theo uỷ quyền của ông Lý Vân G đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của các ông bà, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận nội dung các yêu cầu mà các ông bà đã nêu ra tại các Đơn kháng cáo. Bị đơn ông Lý Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị L1 không đồng ý với các nội dung kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm về việc xem xét công sức quản lý, tôn tạo làm tăng giá trị sử dụng đất của bà Phan Thị L1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo: Kháng cáo của nguyên đơn ông Lý Vân Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lý Vân G, bà Lý Thị T1, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, ông Lý Thanh S đúng thời hạn và họ đều là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý là đúng quy định.
Về nội dung kháng cáo, kháng nghị: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 289, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Lý Vân Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lý Vân G, bà Lý Thị T1, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, ông Lý Thanh S và chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu theo hướng:
+ Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn ông Lý Văn C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị L1 nhường phần thừa kế là ngôi nhà 02 tầng ông C đang ở cho các đồng thừa kế khác, ông xin nhận phần thừa kế khác bao gồm kỳ phần thừa kế được hưởng, phần công sức quản lý, tôn tạo di sản thừa kế của ông C, bà L1 trong suốt quá trình sinh sống tại thửa đất đang tranh chấp cho đến nay. Các đồng thừa kế còn lại cũng có nguyện vọng muốn nhận phần thừa kế là ngôi nhà 02 tầng để làm nơi thờ cúng bố mẹ. Do đó, đề nghị dựa trên nguyện vọng của các bên, chia di sản thừa kế của cụ D, cụ K để lại là: giao căn nhà 2 tầng và thửa đất 230, diện tích 318,2m², tờ bản đồ số 11 tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An cho ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2 và anh Trương Văn C2. Giao cho ông Lý Văn C, bà Phan Thị L1 thửa đất số 225, tờ bản đồ 11, diện tích 123,2m² tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Các đồng thừa kế có trách nhiệm đền bù cho ông C, bà L1 giá trị chênh lệch tài sản so với kỳ phần thừa kế, phần công sức quản lý, tôn tạo di sản thừa kế mà ông C, bà L1 được nhận.
+ Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của nguyên đơn về nội dung “Đề nghị Toà phúc thẩm cho cơ quan chức năng xác minh, thẩm định chữ viết, chữ ký của một số nhân chứng ông C cung cấp mà các ông bà phát hiện giả mạo. Đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Lý Văn C với hành vi lừa đào việc khai báo dẫn đến toà sơ thẩm nhận định không khách quan trong bản án sơ thẩm”.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của nguyên đơn ông Lý Vân Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lý Vân G, bà Lý Thị T1, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, ông Lý Thanh S được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về chia di sản thừa kế thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu theo quy định tại khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn ông Lý Vân Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lý Vân G, bà Lý Thị T1, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, ông Lý Thanh S có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lý Thị T, ông Nguyễn Đắc L, ông Lê Khắc T3, ông Lê Văn T4, ông Lê Đại N1, bà Trương Thị T5, bà Lê Thị L2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan này. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã hỏi ý kiến của các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không nhưng các đương sự không thỏa thuận được. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Lý Vân Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lý Vân G, bà Lý Thị T1, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, ông Lý Thanh S; Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Về yêu cầu công nhận căn nhà 2 tầng trên thửa đất 230, diện tích 318,2m² là di sản thừa kế của ông Lý Văn D và bà Trương Thị K: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn cũng như những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thừa nhận trong quá trình xây dựng căn nhà 2 tầng trên thửa đất 230, ông Lý Vân G đã bỏ ra số tiền 250.000.000 đồng. Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho rằng đây là số tiền ông G bỏ ra để cho cụ D (cho bố) làm nhà còn bị đơn cho rằng đây là tiền ông G cho bị đơn để làm nhà nhưng bị đơn không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh về việc ông G cho bị đơn số tiền 250.000.000 đồng này. Đồng thời, cùng với đơn kháng cáo bổ sung, nguyên đơn có nộp kèm theo một số file ghi âm, ghi hình và lời khai của các ông Đặng Văn T7, Dương Văn L5, Lý Văn T8, Hồ Hữu T9, Vũ Văn S2, Trương Văn H2, Phan Văn C5 là những người thợ trực tiếp thi công, xây dựng, lắp đặt nhà; lời khai của các ông Phan Văn Đ3, Trương Công Đ4 và Phạm Văn N3 là những người sống và công tác tại địa phương và đặc biệt là lời khai của bà Lê Thị T10 (được lập thành Vi bằng) là chủ cửa hàng vật liệu xây dựng xác nhận trong quá trình xây dựng căn nhà 2 tầng bà có bán vật liệu xây dựng cho ông Lý Vân G. Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn ông Lý Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị L1 cũng thừa nhận trong quá trình xây dựng nhà, ngoài ông G thì một số anh em khác trong gia đình như ông S, ông B đều có đóng góp công sức, đến trông nom thợ hoặc trông coi nguyên vật liệu trong quá trình làm nhà. Xét thấy, tại thời điểm làm nhà, cụ D đã 88 tuổi, không có thu nhập gì nên việc các con trong gia đình cùng đóng góp công sức, tiền của để làm nhà cho cha như lời trình bày của nguyên đơn kháng cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có cơ sở để chấp nhận. Tuy nhiên, cũng tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo cũng thừa nhận trong quá trình xây dựng nhà ông C, bà L1 cũng là người có công sức. Tại Biên bản họp gia đình đề ngày 15/02/2019 do nguyên đơn xuất trình cũng có nội dung thể hiện ông C có đóng góp vào việc xây dựng nhà. Các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án như lời khai của những người làm chứng ông Hồ Ngọc H, ông Phan Văn S1, ông Nguyễn Văn Q1, ông Trương Văn Đ1, ông Nguyễn Xuân L4, bà Vũ Thị T6 đều xác định ông Lý Văn C là người trực tiếp thuê, trao đổi làm việc, thanh toán tiền cho thợ xây, thợ làm sắt, thợ làm cửa, thợ làm mái trong quá trình làm nhà cho các ông bà. Đặc biệt, các đương sự cũng thừa nhận sau khi xây dựng xong căn nhà 2 tầng trên thửa đất 230, cụ D và vợ chồng ông C, bà L4 là những người sinh sống tại căn nhà này, các anh chị em khác trong gia đình chỉ là thỉnh thoảng đi về dịp lễ Tết. Sau khi cụ D chết (năm 2013), ông C và bà L4 vẫn là người tiếp tục sinh sống tại căn nhà 2 tầng trên thửa đất 230 mà không có ai phản đối hoặc yêu cầu gì. Như vậy, có căn cứ để xác định căn nhà 2 tầng trên thửa đất 230 là tài sản chung của cụ D và ông C, bà L4 trong quá trình sống chung giữa cụ D với ông C và bà L4 nên có cơ sở để chấp nhận một phần nội dung kháng cáo này của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung kháng cáo công nhận và tính toán phần đóng góp của ông G vào giá trị ngôi nhà và các tài sản khác trên đất, Hội đồng xét xử thấy rằng: quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, tại Bản tự khai ngày 18/5/2023 (BL 108), ông Lý Vân G chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết: công nhận diện tích 1.761m² (trong đó có 282m² là đất ở ổn định lâu dài) tọa lạc tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An là di sản thừa kế của ông D và bà K để lại chưa chia. Yêu cầu chia thừa kế là nhà đất 1.761m² cho các đồng thừa kế, không có yêu cầu công nhận và tính toán phần đóng góp của ông G vào giá trị ngôi nhà và các tài sản khác trên đất. Tại các phiên họp và hòa giải sau đó, người đại diện theo ủy quyền của ông Lý Vân G là ông Lý Thanh S cũng thống nhất với yêu cầu của ông Lý Vân G tại Bản tự khai ngày 18/5/2023, không có yêu cầu gì khác. Như vậy, đối với yêu cầu công nhận và tính toán phần đóng góp của ông G vào giá trị ngôi nhà và các tài sản khác trên đất thì quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông G không yêu cầu, đến tại cấp phúc thẩm mới yêu cầu là vượt quá phạm vi xét xử phúc thẩm nên cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2.2] Về nội dung kháng cáo xác định đúng kỳ phần thừa kế của ông Lý Văn C theo pháp luật: Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo cho rằng Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu phân chia cho ông C thêm một kỳ phần thừa kế là không có căn cứ thuyết phục. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thống nhất trình bày, ông Lý Văn C là người ở chung với bố mẹ từ trước cho đến khi hai cụ chết. Sau khi hai cụ chết, gia đình ông C tiếp tục sinh sống, quản lý thửa đất số 230 và thửa đất số 225, tờ bản đồ số 11. Do đó, khi phân chia di sản thừa kế, xét thấy ông C là người có công sức tôn tạo, duy trì bảo quản, đóng thuế đất và là người thờ cúng người để lại di sản nên cấp sơ thẩm đã tính công sức, phân chia thêm cho ông C một kỳ phần thừa kế nên tổng ông C được nhận là 2 kỳ phần thừa kế (01 phần chia theo pháp luật và 01 phần chia công sức) là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 618 Bộ luật Dân sự, Án lệ số 05/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016, phù hợp với thực tế sử dụng đất bởi lẽ ông C và bà L4 đã sinh sống trên đất một thời gian dài, sau khi cụ D và cụ K chết thì ông C và bà L4 là người trực tiếp sinh sống, bảo quản tài sản nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2.3] Về các nội dung kháng cáo giao căn nhà 2 tầng và thửa đất số 230, diện tích 318,2m², tờ bản đồ số 11 tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An cho 8 anh em gồm ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2 và anh Trương Văn C2 để làm nhà sinh hoạt chung và nơi thờ cúng bố mẹ. Các đồng thừa kế có trách nhiệm đền bù cho ông C giá trị chênh lệch so với kỳ phần thừa kế ông C được nhận. Và giao cho ông Lý Văn C thửa đất số 225, tờ bản đồ 11, diện tích 123,2m² tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Ông C có trách nhiệm bù giá trị chênh lệch so với kỳ phần thừa kế chia cho các đồng thừa kế nếu có; Hội đồng xét xử xét thấy: Như đã phân tích ở trên, có căn cứ để xác định căn nhà 2 tầng trên thửa đất 230 là tài sản chung của cụ D, ông C và bà L4. Khi phân chia di sản thừa kế, nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nguyện vọng được nhận thửa đất số 230, trên đất có căn nhà 2 tầng bởi lẽ nguyên đơn và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này đều đã lớn tuổi lại có gia đình ở xa, việc đi về trong các dịp lễ Tết, cúng giỗ bố mẹ cần có chỗ nghỉ ngơi. Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn ông Lý Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị L1 cũng thừa nhận nguyện vọng muốn có một ngôi nhà chung để sinh hoạt là nguyện vọng chính đáng, ông C, bà L1 tự nguyện nhường lại ngôi nhà 2 tầng và thửa đất số 230 cho nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng đề nghị Toà án phải xem xét thoả đáng về công sức đóng góp, tôn tạo bảo quản tài sản của vợ chồng ông C, bà L1 và quyền lưu cư của vợ chồng ông bà vì hiện nay vợ chồng ông bà đang sinh sống tại nhà và đất này, không có chỗ ở nào khác. Do đó, có cơ sở để ghi nhận sự tự nguyện này của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: giao căn nhà 2 tầng, các tài sản trên đất và thửa đất 230, diện tích 318,2m², tờ bản đồ số 11 tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An cho các ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2 và anh Trương Văn C2. Và giao cho ông Lý Văn C thửa đất số 225, tờ bản đồ 11, diện tích 123,2m² tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Từ những phân tích trên, có cơ sở để sửa bản án sơ thẩm, phân chia di sản thừa kế của cụ Lý Văn D và cụ Lý Thị K1 theo phương án như sau:
Xác định di sản thừa kế của cụ Lý Văn D và cụ Lý Thị K1 để lại là:
+. Thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11, diện tích 318,2m² trong đó 200m² đất ở, 118,2m² đất trồng cây hàng năm (bản đồ địa chính dạng số) tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An trị giá là [(200m² x 3.000.000đ/m²) + (118,2m² x 1.500.000đ/m²)] = 777.300.000₫ (Bảy trăm bảy mươi bảy triệu ba trăm nghìn đồng).
+ Thửa đất 189, tờ bản đồ số 3 (bản đồ 299) nay là thửa đất số 225, tờ bản đồ số 11, diện tích 123,5m² đất ở nông thôn tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An trị giá là (123,5m² x 3.000.000đ/m²) = 370.500.000₫ (Ba trăm bảy mươi triệu năm trăm nghìn đồng).
Tổng diện tích hai thửa đất là 441,7m² đất trong đó 323,5m² đất ở nông thôn và 118,2m² đất trồng cây hàng năm, trị giá 1.147.800.000đ (Một tỷ một trăm bốn mươi bày triệu tám trăm nghìn đồng).
+ ½ giá trị của căn nhà 2 tầng và các tài sản được xây dựng trên thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11 tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Cụ thể các tài sản có trên thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11, có giá trị theo định giá là: 01 nhà chính hai tầng, nền lát gạch liên doanh, tường xây gạch, quét sơn 2 mặt, mái lợp ngói, diện tích xây dựng 103m² trị giá: 820.000.000 đồng; 01 nhà bếp nền láng vữa xi măng, tường xây đá, quét nước xi măng, mái lợp ngói, diện tích 20,64m² trị giá 12.000.000 đồng; Sân láng vữa xi măng kết hợp lát gạch tổng diện tích 87,73m² trị giá 2.600.000 đồng; Mái tôn diện tích 40,29m² trị giá 3.800.000 đồng; Cổng gồm 3 trụ cổng kích thước 40cm x 40cm x 3m, mái đổ bê tông lợp ngói, cổng bằng sắt hộp, tổng giá trị 4.400.000 đồng; 02 cây bưởi trị giá 700.000 đồng; 01 giếng đào, ghép thành bê tông trị giá 1.000.000 đồng; 01 bể nước nằm trong khuôn viên nhà hai tầng, thể tích 7m³, thành xây gạch, trị giá 7.900.000 đồng; Tường bao gồm các đoạn: Tường bao phía Nam: tường xây gạch (dài 6,25m, cao 85cm) + (1,1m, cao 2,1m), phần hoa sắt làm bằng sắt vuông (2,26m x 2 cái), trụ tường xây gạch kích thước (22cm x 25cm x cao 2,1m), tổng trị giá 1.200.000 đồng; Tường bao phía Bắc: tường xây gạch (9,9m x 0,85m) + (1,1m x 2,1m), phần hoa sắt làm bằng sắt vuông (2,26m x 1m) x 4 cái, trụ tường xây gạch kích thước (22cm x 25cm), cao 2,1 x 6 trụ; Tường xây sò giáp ngõ phía sau dài 9,1m x cao 1,3m, 42 con tiễn; tổng giá trị: 3.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản có trên thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11 là 857.100.000 đồng nên ½ giá trị của căn nhà 2 tầng và các tài sản được xây dựng trên thửa đất số 230 là 428.550.000 đồng.
Do đó, di sản thừa kế của cụ Lý Văn D và cụ Lý Thị K1 để lại là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất có tổng giá trị là: 1.576.350.000 đồng.
Về hàng thừa kế: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm các đương sự đều thừa nhận hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lý Văn D và cụ Lý Thị K1 là ông Lý Vân G, bà Lý Thị T, ông Lý Thanh S, ông Lý Vân Q, bà Lý Thị N, ông Lý Văn B, bà Lý Thị T1, ông Lý Văn C, bà Lý Thị B2 (9 người) trong đó do bà Lý Thị B2 đã chết trước cụ D và cụ K1 nên anh Trương Văn T2 và anh Trương Văn C2 là những người thừa kế thế vị của bà Lý Thị B2 theo quy định tại các Điều 613, 651 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về công sức tôn tạo bảo quản tài sản, làm gia tăng giá trị quyền sử dụng đất: Như đã phân tích ở trên, ông C là người có công sức tôn tạo, duy trì bảo quản, đóng thuế đất và là người thờ cúng người để lại di sản nên cấp sơ thẩm đã tính công sức, phân chia thêm cho ông C một kỳ phần thừa kế là có căn cứ. Ngoài ông C, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, các đương sự cũng thừa nhận bà L1 đã kết hôn với ông Lý Văn C từ năm 1989, sau khi kết hôn bà L1, ông C sống cùng cụ D và cụ K1 trên thửa đất tranh chấp, sau khi hai cụ chết ông C, bà L1 tiếp tục quản lý sử dụng thửa đất cho đến nay. Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm thì thời gian bà L1 sinh sống trên đất cũng đã hơn 30 năm là một thời gian dài. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà L1 có yêu cầu xem xét công sức tôn tạo, bảo quản tài sản nhưng cấp sơ thẩm không xem xét, giải quyết là thiếu sót. Vì vậy, căn cứ vào quy định tại Điều 618 Bộ luật Dân sự, Án lệ số 05/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016, thì có cơ sở để trích công sức tôn tạo, bảo quản tài sản cho bà L1 bằng một kỳ phần thừa kế là phù hợp với giá trị di sản thừa kế và quá trình đóng góp công sức của những người quản lý di sản thừa kế. Do đó, có cơ sở để xác định phương án phân chia di sản thừa kế của cụ D và cụ K1 là được phân chia thành 11 suất trong đó 09 suất cho 09 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất, 01 suất trích công sức tôn tạo, bảo quản tài sản cho ông C và 01 suất trích công sức tôn tạo, bảo quản tài sản cho bà L1 nên giá trị mỗi suất thừa kế được phân chia là: (1.576.350.000 đồng : 11) = 143.304.500 đồng. Tại phiên toà phúc thẩm, ông C, bà L1 cũng đồng ý là phân chia tài sản chung cho hai ông bà nên tổng giá trị tài sản và di sản mà ông C, bà L1 được phân chia là: (143.304.500 đồng x 3) = 429.913.500 đồng. Đồng thời, ông C và bà L1 được nhận ½ giá trị của căn nhà 2 tầng và các tài sản được xây dựng trên thửa đất số 230 là 428.550.000 đồng nên tổng giá trị tài sản mà ông C và bà L1 được nhận là 858.463.500 đồng.
Về phương án phân chia bằng hiện vật: Tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn ông C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L1 là giao căn nhà 2 tầng, các tài sản trên đất và thửa đất 230, diện tích 318,2m², tờ bản đồ số 11 tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An các ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2 và anh Trương Văn C2; cụ thể giá trị của các tài sản là:
+ Quyền sử dung đất tại thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11, diện tích 318,2m² trong đó 200m² đất ở, 118,2m² đất trồng cây lâu năm (bản đồ địa chính dạng số) tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An trị giá 777.300.000₫ (Bảy trăm bảy mươi bảy triệu ba trăm nghìn đồng).
+ Các tài sản có trên thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11, bao gồm: 01 nhà chính hai tầng, nền lát gạch liên doanh, tường xây gạch, quét sơn 2 mặt, mái lợp ngói, diện tích xây dựng 103m² trị giá: 820.000.000 đồng; 01 nhà bếp nền láng vừa xi măng, tường xây đá, quét nước xi măng, mái lợp ngói, diện tích 20,64m² trị giá 12.000.000 đồng; Sân láng vữa xi măng kết hợp lát gạch tổng diện tích 87,73m² trị giá 2.600.000 đồng; Mái tôn diện tích 40,29m² trị giá 3.800.000 đồng; Cổng gồm 3 trụ cổng kích thước 40cm x 40cm x 3m, mái đổ bê tông lợp ngói, cổng bằng sắt hộp, tổng giá trị 4.400.000 đồng; 02 cây bưởi trị giá 700.000 đồng; 01 giếng đào, ghép thành bê tông trị giá 1.000.000 đồng; 01 bể nước nằm trong khuôn viên nhà hai tầng, thể tích 7m³, thành xây gạch, trị giá 7.900.000 đồng; Tường bao gồm các đoạn: Tường bao phía Nam: tường xây gạch (dài 6,25m, cao 85cm) + (1,1m, cao 2,1m), phần hoa sắt làm bằng sắt vuông (2,26m x 2 cái), trụ tường xây gạch kích thước (22cm x 25cm x cao 2,1m), tổng trị giá 1.200.000 đồng; Tường bao phía Bắc: tường xây gạch (9,9m x 0,85m) + (1,1m x 2,1m), phần hoa sắt làm bằng sắt vuông (2,26m x 1m) x 4 cái, trụ tường xây gạch kích thước (22cm x 25cm), cao 2,1 x 6 trụ; Tường xây sò giáp ngõ phía sau dài 9,1m x cao 1,3m, 42 con tiễn; tổng giá trị: 3.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản có trên thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11 là 857.100.000 đồng.
Tổng trị giá quyền sử dụng và các tài sản có trên thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11 diện tích 318,2m² tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giao cho ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2, anh Trương Văn C2 được sở hữu, sử dụng là: 1.634.400.000 đồng.
Đồng thời, giao cho ông Lý Văn C thửa đất số 225, tờ bản đồ 11, diện tích 123,2m² tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An nhưng do giá trị thửa đất số 225 chỉ là 370.500.000đ, trong khi tổng giá trị tài sản mà ông C và bà L1 được phân chia là 858.463.500 đồng nên buộc ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2 và anh Trương Văn C2 phải trả lại phần giá trị tài sản chênh lệch cho ông Lý Văn C và bà Phan Thị L1 là (858.463.500₫ - 370.500.000₫) = 487.963.500 đồng, trong đó phân chia kỳ phần cụ thể mà các ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1 mỗi người phải trả lại phần giá trị tài sản chênh lệch cho ông Lý Văn C và bà Phan Thị L1 là 60.995.500 đồng; kỳ phần mà anh Trương Văn T2 và anh Trương Văn C2 mỗi người phải trả lại phần giá trị tài sản chênh lệch cho ông Lý Văn C và bà Phan Thị L1 là 30.497.750 đồng.
Tuy nhiên, do hiện nay ông Lý Văn C, bà Phan Thị L1 đang là những người sinh sống trong ngôi nhà hai tầng trên thửa đất số 230 nên để đảm bảo quyền lợi cho ông C và bà L1 trong việc tạo lập chỗ ở mới thì ông Lý Văn C, bà Phan Thị L1 có quyền được ở lại (lưu cư) tại nhà và thửa đất số 230 cho đến khi các ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2 và anh Trương Văn C2 thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả lại phần giá trị tài sản chênh lệch cho ông Lý Văn C và bà Phan Thị L1. Ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2 và anh Trương Văn C2 được trọn quyền sở hữu, sử dụng tài sản trên đất và thửa đất số 230 sau khi đã thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ tại bản án này.
[2.4] Về nội dung kháng cáo "đề nghị Toà phúc thẩm cho cơ quan chức năng xác minh, thẩm định chữ viết, chữ ký của một số nhân chứng ông C cung cấp mà các ông bà phát hiện giả mạo. Đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Lý Văn C với hành vi lừa đảo việc khai báo dẫn đến toà sơ thẩm nhận định không khách quan trong bản án sơ thẩm": tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn ông Lý Vân Q xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo này. Xét thấy việc rút một phần nội dung kháng cáo của người kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Lý Vân Q theo quy định tại khoản 3 Điều 289; khoản 3 Điều 298 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1]. Về nội dung kháng nghị không giải quyết yêu cầu của đương sự: Như đã phân tích ở trên, khi xem xét phân chia di sản thừa kế, cấp sơ thẩm chỉ trích công sức cho ông C mà không trích công sức quản lý di sản cho bà L1 là không phù hợp. Do đó, cấp phúc thẩm chấp nhận nội dung kháng nghị này của Viện kiểm sát, sửa Bản án sơ thẩm về vấn đề này, xem xét trích công sức tôn tạo, bảo quản tài sản cho bà L1 bằng một suất thừa kế theo quy định tại Điều 618 Bộ luật Dân sự, Án lệ số 05/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016.
[3.2] Về nội dung kháng nghị phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất không đúng quy định của pháp luật: Bản án sơ thẩm giao cho các đồng thừa kế chỉ là 288,2m² (thiếu 30m² đất trồng cây lâu năm) và buộc ông C phải trích trả kỳ phần vượt quá cho bị đơn và các đồng thừa kế số tiền 118.590.000 đồng là những nhầm lẫn về mặt số liệu, sai sót về mặt số học nên nội dung kháng nghị này của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, có cơ sở để sửa bản án sơ thẩm, phân chia di sản thừa kế của cụ Lý Văn D và cụ Lý Thị K1 theo phương án như đã phân tích ở trên (phương án khác với phương án xét xử sơ thẩm) nên thiếu sót của cấp sơ thẩm đã được cấp phúc thẩm khắc phục nhưng cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[3.3] Về nội dung kháng nghị quyết định giao tài sản trên đất không đúng với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày 31/7/2023: Tại các Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày 31/7/2023 có sự nhầm lẫn về mặt chính tả, sai sót trong việc mô tả vị trí của các tài sản có trên hai thửa đất là di sản thừa kế. Tại phiên toà phúc thẩm, các đương sự cũng thống nhất các tài sản trong Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày 31/7/2023 được mô tả có trên thửa đất số 225 thực tế là có trên thửa đất số 230 nên không cần thiết phải tiến hành xem xét, thẩm định lại nhưng cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm về những sai sót trong khi tiến hành thẩm định và định giá tài sản. Đồng thời, bản án sơ thẩm phân chia một phần tài sản mà không phân chia phần còn lại, bỏ sót tài sản để phân chia là những sai sót mà cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm. Tuy nhiên, do tại phiên toà phúc thẩm có cơ sở để phân chia di sản thừa kế của cụ Lý Văn D và cụ Lý Thị K1 theo phương án phân chia như đã phân tích ở trên (khác với phương án mà cấp sơ thẩm đã phân chia) nên cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về nội dung phân chia tài sản trên đất này.
[3.4]. Về nội dung kháng nghị giải quyết án phí không đúng quy định của pháp luật: Cấp sơ thẩm miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông C không đúng đối tượng theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2020 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 13/12/2016 nên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu là có căn cứ, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, tại phiên toà phúc thẩm có căn cứ để phân chia di sản thừa kế của cụ Lý Văn D và cụ Lý Thị K1 bằng hiện vật khác với phương án mà cấp sơ thẩm đã phân chia nên cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về án phí dân sự sơ thẩm của các đương sự theo phương án phân chia này. Trong đó, do nguyên đơn ông Lý Vân Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lý Vân G, bà Lý Thị T1, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, ông Lý Thanh S là những người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn ông Lý Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên tổng giá trị tài sản được phân chia là 858.463.500 đồng; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trương Văn T2, Trương Văn C2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng giá trị tài sản được phân chia là 143.304.500 đồng.
[4]. Về án phí phúc thẩm: kháng cáo của nguyên đơn ông Lý Vân Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lý Vân G, bà Lý Thị T1, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, ông Lý Thanh S được chấp nhận một phần nên nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An kháng nghị thuộc trường hợp không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 29, điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 2 Điều 296, khoản 3 Điều 289; khoản 3 Điều 298; khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Lý Vân Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lý Vân G, bà Lý Thị T1, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, ông Lý Thanh S; Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 23/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ vào: Khoản 5 Điều 26; Các Điều 35, 39, 147, 227, 228, Điều 244, 271, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự:
Căn cứ vào Điều 609, 611, 612, 613, 614, 618, 623, 649, 650, 651, 652, 660 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 166, Điều 167 Luật Đất đai năm 2013; Án lệ số 05/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 26, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lý Vân Q.
Giao cho ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2, anh Trương Văn C2 được sử dụng chung thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11, diện tích 318,2m² trong đó 200m² đất ở, 118,2m² đất trồng cây lâu năm (bản đồ địa chính dạng số) tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An trị giá 777.300.000₫ (Bảy trăm bảy mươi bảy triệu ba trăm nghìn đồng). Và ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2, anh Trương Văn C2 được sở hữu các tài sản có trên thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11, bao gồm: 01 nhà chính hai tầng, nền lát gạch liên doanh, tường xây gạch, quét sơn 2 mặt, mái lợp ngói, diện tích xây dựng 103m² trị giá: 820.000.000 đồng; 01 nhà bếp nền láng vữa xi măng, tường xây đá, quét nước xi măng, mái lợp ngói, diện tích 20,64m² trị giá 12.000.000 đồng; Sân láng vữa xi măng kết hợp lát gạch tổng diện tích 87,73m² trị giá 2.600.000 đồng; Mái tôn diện tích 40,29m² trị giá 3.800.000 đồng; Cổng gồm 3 trụ cổng kích thước 40cm x 40cm x 3m, mái đổ bê tông lợp ngói, cổng bằng sắt hộp, tổng giá trị 4.400.000 đồng; 02 cây bưởi trị giá 700.000 đồng; 01 giếng đào, ghép thành bê tông trị giá 1.000.000 đồng; 01 bể nước nằm trong khuôn viên nhà hai tầng, thể tích 7m³, thành xây gạch, trị giá 7.900.000 đồng; Tường bao gồm các đoạn: Tường bao phía Nam: tường xây gạch (dài 6,25m, cao 85cm) + (1,1m, cao 2,1m), phần hoa sắt làm bằng sắt vuông (2,26m x 2 cái), trụ tường xây gạch kích thước (22cm x 25cm x cao 2,1m), tổng trị giá 1.200.000 đồng; Tường bao phía Bắc: tường xây gạch (9,9m x 0,85m) + (1,1m x 2,1m), phần hoa sắt làm bằng sắt vuông (2,26m x 1m) x 4 cái, trụ tường xây gạch kích thước (22cm x 25cm), cao 2,1 x 6 trụ; Tường xây sò giáp ngõ phía sau dài 9,1m x cao 1,3m, 42 con tiễn; tổng giá trị: 3.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản có trên thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11 là 857.100.000 đồng.
Ranh giới của thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11 diện tích 318,2m² tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp đường xóm dài 2,49m +9,08m + 1,35m;
- Phía Nam giáp thửa đất số 235, tờ bản đồ 11 do ông Nguyễn Hữu Đ2 sử dụng dài 11,91m, giáp thửa đất 163 dài 3,06m.
- Phía Đông giáp đường bê tông xóm dài 10,79m + 11,14m + 1,00m;
- Phía Tây giáp thửa đất 163 dài 0,58m; giáp thửa đất 266 do anh Phạm Văn M sử dụng dài 8,88m + 12,32m; giáp đường bê tông xóm dài 0,49m.
Tổng trị giá quyền sử dụng và các tài sản có trên thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11 diện tích 318,2m² tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giao cho ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2, anh Trương Văn C2 được sở hữu, sử dụng là: 1.634.400.000 đồng (Một tỷ, sáu trăm ba mươi tư triệu, bốn trăm nghìn đồng).
Nhưng ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2, anh Trương Văn C2 có nghĩa vụ trả lại phần giá trị tài sản chênh lệch cho ông Lý Văn C và bà Phan Thị L1 là 487.963.500 đồng (Bốn trăm tám mươi bảy triệu, chín trăm sáu mươi ba nghìn, năm trăm đồng), trong đó phân chia kỳ phần cụ thể mà các ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1 mỗi người phải trả lại phần giá trị tài sản chênh lệch cho ông Lý Văn C và bà Phan Thị L1 là 60.995.500 đồng (Sáu mươi triệu, chín trăm chín mươi lăm nghìn, năm trăm đồng); kỳ phần mà anh Trương Văn T2 và anh Trương Văn C2 mỗi người phải trả lại phần giá trị tài sản chênh lệch cho ông Lý Văn C và bà Phan Thị L1 là 30.497.750 đồng (Ba mươi triệu, bốn trăm chín mươi bảy nghìn, bảy trăm năm mươi đồng).
Tạm giao cho ông Lý Văn C, bà Phan Thị L1 được sử dụng thửa đất số 225, tờ bản đồ số 11, diện tích 123,5m² đất ở (theo bản đồ địa chính dạng số) tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An trị giá 370.500.000₫ (Ba trăm bảy mươi triệu, năm trăm nghìn đồng). Ranh giới của thửa đất số 225, tờ bản đồ số 11 tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An như sau:
- Phía Đông: Giáp đường bê tông xóm dài: 8,65m + 1,52m
- Phía Tây: giáp thửa đất số 221, tờ bản đồ số 11 dài: 10,42m + 0,44m
- Phía Nam: Giáp đường xóm dài 0,42m + 0,67m+0,39m+10,19m + 0,66m
- Phía Bắc: Giáp thửa đất 217, tờ bản đồ số 11 dài 11,42m.
Và ông Lý Văn C, bà Phan Thị L1 được sở hữu số tiền mà ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2, anh Trương Văn C2 có nghĩa vụ trả lại phần giá trị tài sản chênh lệch cho ông Lý Văn C và bà Phan Thị L1 là 487.963.500 đồng (Bốn trăm tám mươi bảy triệu, chín trăm sáu mươi ba nghìn, năm trăm đồng). Tổng giá trị tài sản mà ông Lý Văn C và bà Phan Thị L1 được phân chia là (370.500.000₫ + 487.963.500₫) = 858.463.500 đồng (T1 trăm năm mươi tám triệu, bốn trăm sáu mươi ba nghìn, năm trăm đồng).
Ông Lý Văn C, bà Phan Thị L1 có quyền được ở lại (lưu cư) tại nhà và thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11 tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An cho đến khi các ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2 và anh Trương Văn C2 thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả lại phần giá trị tài sản chênh lệch cho ông Lý Văn C và bà Phan Thị L1. Ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2 và anh Trương Văn C2 được trọn quyền sở hữu, sử dụng tài sản trên đất và thửa đất số 230, tờ bản đồ số 11 tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An sau khi đã thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ tại bản án này.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Lý Vân Q về nội dung: “đề nghị Toà phúc thẩm cho cơ quan chức năng xác minh, thẩm định chữ viết, chữ ký của một số nhân chứng ông C cung cấp mà các ông bà phát hiện giả mạo. Đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Lý Văn C với hành vi lừa đảo việc khai báo dẫn đến toà sơ thẩm nhận định không khách quan trong bản án sơ thẩm”.
Kể từ ngày ông Lý Văn C và bà Phan Thị L1 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, nếu ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2, anh Trương Văn C2 không chịu thi hành thì hàng tháng ông Lý Vân Q, ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1, anh Trương Văn T2, anh Trương Văn C2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Lý Vân Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Vân G, ông Lý Thanh S, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, bà Lý Thị T, bà Lý Thị T1 được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Lý Văn C, bà Phan Thị L1 phải chịu 37.753.900 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Anh Trương Văn T2, anh Trương Văn C2 mỗi người phải chịu 3.582.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: nguyên đơn ông Lý Vân Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lý Vân G, bà Lý Thị T1, ông Lý Văn B, bà Lý Thị N, ông Lý Thanh S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- TAND huyện Quỳnh Lưu;
- VKSND huyện Quỳnh Lưu;
- Chi cục THADS huyện Quỳnh Lưu;
- Các đương sự,
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thanh Nga
Bản án số 20/2025/DS-PT ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 20/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản giữa ông Q và ông C
