Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/DS-PT

Ngày 18-3-2025

Về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thưởng.

Các Thẩm phán: Ông Lưu Anh Tuấn và bà Trần Thị Hồng.

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Mỹ Nga - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 139/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 136/2024/DS-ST ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 05/2025/QĐ-PT ngày 07 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Cửu Thị T; địa chỉ: Số A đường H, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Do ông Nguyễn Tấn D; địa chỉ: Số A đường H, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai, làm đại diện theo ủy quyền. Có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Hồ Thị Liên H và ông Lê Văn M; địa chỉ: Số A đường Đ, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Do ông Nguyễn Duy N; địa chỉ: Số A đường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai, làm đại diện theo ủy quyền. Có mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Tấn D; địa chỉ: Số A đường H, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai.Có mặt.
  4. Người kháng cáo: Bị đơn bà Hồ Thị Liên H và ông Lê Văn M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn trình bày: Từ năm 2019 đến năm 2023, bà T đã vay tiền của bà H và ông M tổng số 29 lần, thể hiện tại 29 giấy mượn tiền. Bà T đã trả tiền gốc và tiền lãi của 14 giấy mượn tiền, còn lại 15 giấy mượn tiền do vợ chồng bà H đang giữ. Trong đơn khởi kiện, bà H đã ghi: “Do có quen biết với nhau, bà Nguyễn Cửu Thị T và ông Nguyễn Tấn D đã đến nhà vay tiền của tôi nhiều lần để kinh doanh. Mỗi lần vay tiền, bà T viết giấy mượn tiền và ông D xác nhận. Nếu trong thời gian vay tiền, bà T và ông D trả được số tiền bao nhiêu thì tôi sẽ lấy lại các giấy vay tiền tương ứng với số tiền đã trả”. Bà H đã thừa nhận trả lại cho bà T các giấy mượn tiền tương ứng với số tiền bà T đã trả không phân biệt tờ giấy mượn tiền trước hoặc sau, cụ thể:

  • - Lần thứ nhất: Ngày 19-12-2021, bà T đã trả cho vợ chồng bà H 1.700.000.000 đồng thông qua chuyển khoản cho ông Lê Văn M, số tài khoản: 62110004465555 thuộc Ngân hàng B. Sau khi nhận tiền, bà H đã đưa lại 10 tờ giấy mượn tiền cho bà T, tương ứng với số tiền 1.650.000.000 đồng gồm:

    • Tờ số 1- Mượn ngày 2-12-2019, số tiền 300.000.000 đồng.
    • Tờ số 2- Mượn ngày 19-12-2019, số tiền 100.000.000 đồng.
    • Tờ số 3- Mượn ngày 3-01-2020, số tiền 250.000.000 đồng.
    • Tờ số 4- Mượn ngày 16-01-2020, số tiền 200.000.000 đồng
    • Tờ số 5- Mượn ngày 20-02-2020, số tiền 140.000.000 đồng.
    • Tờ số 6- Mượn ngày 20-04-2020, số tiền 160.000.000 đồng.
    • Tờ số 7- Mượn ngày 24-04-2020, số tiền 100.000.000 đồng.
    • Tờ số 8- Mượn ngày 20-05-2020, số tiền 200.000.000 đồng.
    • Tờ số 9- Mượn ngày 3-06-2020, số tiền 150.000.000 đồng.
    • Tờ số 10- Mượn ngày 28-07-2020, số tiền 50.000.000 đồng.
    • Số tiền còn dư 50.000.000 đồng, bà H tự trừ vào tiền lãi.
  • - Lần thứ hai: Ngày 25-6-2021, bà T trả tiền gốc cho vợ chồng bà H 350.000.000 đồng thông qua chuyển khoản cho ông Lê Văn M, số tài khoản: 62110004465555 thuộc ngân hàng B. Sau khi nhận tiền, bà H đưa lại cho bà T 02 tờ giấy mượn tiền, tương ứng với số tiền 350.000.000 đồng gồm:

    • Tờ số 1- Mượn ngày 23-12-2019, số tiền 150.000.000 đồng.
    • Tờ số 2- Mượn ngày 21-12-2019, số tiền 200.000.000 đồng.
  • - Lần thứ ba: Ngày 15-06-2022, bà T trả tiền gốc cho vợ chồng bà H 500.000.000 đồng thông qua chuyển khoản cho ông Lê Văn M, số tài khoản: 62110004465555 thuộc Ngân hàng B. Sau khi nhận tiền, bà H đưa lại cho bà T 02 tờ giấy mượn tiền, tương ứng với số tiền 500.000.000 đồng gồm:

    • Tờ số 1- Mượn ngày 16-6-2020, số tiền 200.000.000 đồng.
    • Tờ số 2- Mượn ngày 17-7-2019, số tiền 300.000.000 đồng.

Trong tổng số 14 tờ giấy mượn tiền bà H đã đưa lại cho bà T, có 02 tờ viết tay không theo mẫu. Tổng số tiền gốc bà T đã trả là 2.500.000.000 đồng và trả tiền lãi 1.607.400.000 đồng.

Đối chiếu vào tiền lãi theo quy định của Luật dân sự là 1,66% trên tháng tiền lãi phải trả là 889.068.000 đồng. Vì vậy, số tiền lãi bà T đã trả cho bà H vượt là 718.332.000 đồng. Vì vậy, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Hồ Thị Liên H và ông Lê Văn M hoàn trả số tiền lãi đã thanh toán vượt mức lãi suất quy định của pháp luật (20%/năm) là 718.332.000 đồng trong số tiền lãi đã trả 1.607.400.000 đồng với lãi suất 3%/tháng là tiền lãi phát sinh của 14 khoản vay từ ngày 02-12-2019 đến ngày 09-12-2021 với số tiền nợ gốc đã trả 2.500.000.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn hoàn trả số tiền lãi đã thanh toán vượt mức lãi suất quy định của pháp luật là 20%/năm = 1,667%/tháng trong số tiền lãi đã trả với lãi suất 3%/tháng của 14 khoản vay từ ngày 02-12-2019 đến ngày 09-12-2021 với số tiền nợ gốc đã trả 2.500.000.000 đồng và số tiền này sẽ được trừ vào khoản nợ gốc nguyên đơn còn nợ bị đơn.

Bị đơn bà Hồ Thị Liên H và ông Lê Văn M trình bày: Thừa nhận ông bà cùng với bà Nguyễn Cửu Thị T đã xác lập 14 Giấy mượn tiền, cụ thể: Ngày 02-12-2019 vay 300.000.000 đồng; ngày 19-12-2016 vay 100.000.000 đồng; ngày 23-12-2019 vay 150.000.000 đồng; ngày 31-12-2019 vay 200.000.000 đồng; ngày 03-01-2020 vay 250.000.000 đồng; ngày 16-01-2020 vay 200.000.000 đồng; ngày 20-02-2020 vay 140.000.000 đồng; ngày 20-4-2020 vay 160.000.000 đồng; ngày 24-4-2020 vay 100.000.000 đồng; ngày 20-5-2020 vay 200.000.000 đồng; ngày 03-6-2020 vay 150.000.000 đồng; ngày 16-6-2020 vay 200.000.000 đồng; ngày 17-7-2020 vay 300.000.000 đồng; ngày 28-7-2020 vay 50.000.000 đồng. Bà H và ông M thừa nhận lãi suất thỏa thuận của các khoản vay là 3%/tháng. Bà T đã trả hết nợ gốc và lãi theo mức lãi suất thoả thuận 3%/tháng và đã nhận 14 giấy mượn tiền này. Tuy nhiên, về mốc thời gian trả tiền thì bà H và ông M không thống nhất với trình bày của bà T, vì các giao dịch này đã thực hiện xong nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn D trình bày: Thống nhất với ý kiến và yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Cửu Thị T.

Giải quyết của tòa án cấp sơ thẩm:

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 136/2024/DS-ST ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, các Điều: 228, 244, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 468 và khoản 2 Điều 469 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Tuyên xử:
  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Cửu Thị T. Buộc ông Lê Văn M và bà Hồ Thị Liên H phải trả cho bà Nguyễn Cửu Thị T số tiền 712.288.519 đồng.
  • Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, lãi suất chậm trả, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024, bị đơn bà Hồ Thị Liên H và ông Lê Văn M có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thông nhất với ý kiến của nguyên đơn.

Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới; không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau: Việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm đảm bảo đúng quy định; những người tham gia tố tụng đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của người kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của người kháng cáo trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Hồ Thị Liên H và ông Lê Văn M về 14 giấy vay tiền đã trả xong số tiền nợ gốc và lãi suất như các bên thỏa thuận nên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hoàn trả số tiền lãi vượt quá, Hội đồng xét xử xét thấy: Các đương sự đều thừa nhận từ năm 2019 đến năm 2023, bà T đã 29 lần vay tiền của bà H và ông M, đã trả tiền gốc và tiền lãi theo mức lãi suất 3%/tháng của 14 khoản vay đúng như các giấy vay tiền do bà T cung cấp. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.

    Về lãi suất vay, tại Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự quy định như sau:

    “1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

    Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.... Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

    Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định các bên đã thỏa thuận mức lãi suất vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự và trừ số tiền lãi đã trả vượt quá mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn quy định vào số tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi. Tổng số tiền lãi suất nguyên đơn đã trả cho bị đơn là 1.603.050.000 đồng. Trong đó, số tiền lãi suất đã trả vượt quá so với lãi suất giới hạn là: 712.288.519 đồng và buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 712.288.519 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

    Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn không đồng ý mốc thời gian trả tiền gốc, nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình và không được nguyên đơn chấp nhận.

    Từ những căn cứ, nhận định như trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  3. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo là bà Hồ Thị Liên H và ông Lê Văn M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 308; các Điều 148, 313 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử.
  • 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Hồ Thị Liên H và ông Lê Văn M.
  • Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 136/2024/DS-ST ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
  • 2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  • Buộc bà Hồ Thị Liên H và ông Lê Văn M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai số 000731 ngày 07-11-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
  • Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  • 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  • 4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND thành phố Pleiku;
  • - VKSND thành phố Pleiku;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Pleiku;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Toà DS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Trần Văn Thưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 20/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Hồ Thị Liên H và ông Lê Văn M. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 136/2024/DS-ST ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger