|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/DS-PT Ngày: 12/01/2026 Về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Kiều
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập
Bà Hoàng Thị Hải Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Duy Linh, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 và 12 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 460/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 88/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 507/2025/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Nhật T, sinh năm 1990. Căn cước công dân số [...]. Địa chỉ: Số A, Đường L, Khóm I, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm F, phường B, tỉnh Cà Mau). (có mặt)
- Bị đơn: Bà Diệp Mỹ H, sinh năm 1971. Căn cước công dân số [...]. Địa chỉ: Số B, Khóm G, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm E, phường B, tỉnh Cà Mau).
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Nguyễn Hồng H1, sinh ngày 01/01/1985. Căn cước công dân số [...]. Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã P, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Nhật T là nguyên đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15/7/2025, quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa ông Nguyễn Nhật T là nguyên đơn trình bày:
Từ tháng 11/2020 đến nay, ông có cho bà Diệp Mỹ H vay tiền không kỳ hạn, không lãi suất. Phương thức ông cho bà Diệp M H vay tiền là khi bà H có yêu cầu vay tiền của ông thì bà H sẽ gặp trực tiếp hoặc điện thoại cho ông để đề nghị vay tiền. Trường hợp ông đồng ý cho bà H vay ông sẽ nộp tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản cá nhân của bà H. Mục đích bà H vay tiền của ông để sử dụng cho mục đích cá nhân và hợp pháp. Tổng số tiền ông đã cho bà H vay mượn bằng cách nộp tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản của bà H và bà H đã nhận được tiền của ông từ tháng 11/2020 đến nay là 82.395.000.000 đồng, cụ thể 66 lần nộp tiền mặt vào tài khoản của bà H tổng số tiền là 70.326.300.000 đồng và 29 lần chuyển khoản vào tài khoản bà H với tổng số tiền 12.068.700.000 đồng. Bà H đã nộp tiền và chuyển tiền trả nợ cho ông được 71.629.000.000 đồng. Như vậy, số tiền bà H còn nợ lại là 10.766.000.000 đồng.
Tổng số tiền bà H còn nợ tổng cộng 10.766.000.000 đồng, cụ thể các khoản vay như sau: Ngày 24/5/2022 ông nộp tiền mặt vào tài khoản bà H số tiền 2.600.000.000 đồng, bà H đã trả nợ cho ông 1.034.000.000 đồng, hiện tại còn nợ lại số tiền 1.566.000.000 đồng; Ngày 30/5/2022 ông nộp tiền mặt vào số tài khoản bà H số tiền 1.500.000.000 đồng; Ngày 06/6/2022 ông nộp tiền mặt vào số tài khoản bà H số tiền 1.000.000.000 đồng; Ngày 22/6/2022 ông nộp tiền mặt vào số tài khoản bà H số tiền 800.000.000 đồng; Ngày 19/7/2022 ông nộp tiền mặt vào số tài khoản bà H số tiền 400.000.000 đồng; Ngày 25/7/2022 ông chuyển khoản cho bà H 05 lần, lần 1: 400.000.000 đồng, lần 2: 450.000.000 đồng; lần 3: 450.000.000 đồng, lần 4: 450.000.000 đồng, lần 5: 150.000.000 đồng; Ngày 28/7/2022 ông nộp tiền mặt vào tài khoản của bà H số tiền 1.900.000.000 đồng; Ngày 24/8/2022 ông nộp tiền mặt vào tài khoản của bà H số tiền 500.000.000 đồng; Ngày 29/8/2022 ông nộp tiền mặt vào tài khoản của bà H số tiền 1.000.000.000 đồng; Ngày 25/7/2023 ông chuyển khoản cho bà H số tiền 200.000.000 đồng.
Đến tháng 5/2025 do ông có nhu cầu cá nhân cần sử dụng số tiền đang cho bà H vay không kỳ hạn, không lãi suất nên ngày 10/5/2025 ông đã gửi thông báo yêu cầu bà H trả nợ cho ông với tổng số tiền 10.766.000.000 đồng và yêu cầu bà H phải thanh toán cho ông trước ngày 25/6/2025 qua đường bưu điện, phát tận tay bà H và có báo phát hoàn về và bà H đã nhận được thông báo nêu trên của ông ngày 10/5/2025 và ngày 13/5/2025. Hiện đã quá thời hạn ngày 25/6/2025 nhưng bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà H trả cho ông tổng số tiền nợ gốc là 10.766.000.000 đồng và nợ lãi tính mức lãi suất 9%/năm tính từ ngày 25/6/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm là 242.235.000 đồng và tiền lãi trong giai đoạn thi hành án.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Diệp Mỹ H và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Bà H không có vay tiền của ông T mà ông T mới là người vay tiền của bà H. Các chứng cứ ông T cung cấp dù nộp tiền hay chuyển tiền vào tài khoản của bà H đều không có bất kỳ nội dung nào thể hiện ông T cho bà H vay hay mượn tiền của ông T. Theo sao kê tài khoản của ông T khi thực hiện chuyển tiền cho ai đều có nội dung cụ thể, đều này cho thấy T là một người rất kỹ tính và thận trọng trong các giao dịch chuyển tiền của mình, đặc biệt khi cho vay mượn, dù số tiền lớn hay nhỏ đều ghi nội dung chuyển tiền cho mượn. Ông T xác định hiện nay bà H còn nợ 14 giao dịch, trong đó 06 giao dịch chuyển tiền ngày 25/7/2022 đều thể hiện nội dung “CHUYỂN TRẢ TIỀN MUA HÀNG”.
Ông T cho rằng các khoản tiền bà H chuyển vào tài khoản của ông T là tiền bà H trả cho ông T là không phù hợp vì theo sao kê tài khoản, sau khi bà H chuyển tiền cho ông T thì ông T đều rút tiền mặt hay chuyển khoản sử dụng hết số tiền bà H đã chuyển trong ngày. Điều này chứng minh được T là người mượn tiền của bà H.Ông T xác định các hình ảnh zalo bà H cung cấp là cắt ghép, giả tạo là không có căn cứ vì khi ông T không trả nợ cho bà H thì bà H đã chụp màn hình tin nhắn zalo giữa bà H và ông T để làm chứng và bà H đã lập Vi bằng số 37/2025/VB-TPLBL ngày 05/6/2025 để chứng minh ông T có mượn tiền của bà H và hiện tại vẫn còn nợ bà H. Các hình ảnh tin nhắn zalo bà H cung cấp là tin nhắn giữa bà H và ông T, ông T nhắn tin và mượn tiền của bà H hoàn toàn trùng khớp với sao kê tài khoản của ông T. Tại công văn số 1347/2025/CVZA-VNG ngày 30/6/2025 của Công ty C xác định “số 0915.370.371 là tài khoản ngừng hoạt động. Thời gian khởi tạo tài khoản ngày 19/6/2025, tài khoản xóa ngày 21/6/2025” và tại phiên tòa sơ thẩm vụ án bà H, ông K khởi kiện ông T ngày 27/8/2025 ông T thừa nhận giao dịch chuyển tiền với số tiền 20.400.000 đồng ngày 01/7/2025 trên Vi bằng mà Hội đồng xét xử cho ông T xem là do ông Tiến T1 thực hiện trên điện thoại nên càng thêm chứng minh ông T là người sử dụng zalo tên “T” để gửi chụp màn hình chuyển tiền cho bà H vì bà H không thể tự thực hiện giao dịch và chụp lại màn hình.
Ngoài ra, tại Bản án số 45/2025/DS-ST ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, ông K buộc ông T phải trả cho bà H, ông K số tiền nợ vay số 5.100.000.000 đồng và tiền lãi theo chứng cứ bà H cung cấp là giấy xác nhận nợ ngày 12/4/2024. Điều này chứng minh đến ngày 12/4/2024 ông T còn nợ tiền vay của bà H, nếu tại thời điểm đó bà H còn nợ ông T thì không có lý do gì ông T ký vào giấy xác nhận nợ cho vợ chồng bà H.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 88/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau quyết định:
- - Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2, 9 Điều 95, Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội.
- - Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- - Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 24 và khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Nhật T yêu cầu bà Diệp M H trả nợ gốc 10.766.000.000 đồng và nợ lãi 9%/năm tính từ ngày 25/6/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm là 242.235.000 đồng.
- Về án phí: Ông Nguyễn Nhật T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 119.008.235 đồng. Ông T đã nộp tạm ứng án phí là 59.410.000 đồng theo biên lai thu số 0011164 ngày 23/7/2025 được chuyển thu án phí và ông Nguyễn Nhật T còn phải nộp thêm là 59.598.235 đồng (Năm mươi chín triệu năm trăm
chín mươi tám nghìn hai trăm ba mươi lăm đồng), nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau.
Ngày 29 tháng 8 năm 2025, bị đơn ông Nguyễn Nhật T kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Nhật T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- - Về thủ tục tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật.
- - Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Nhật T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 88/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Kháng cáo của ông Nguyễn Nhật T được thực hiện trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung vụ án và kháng cáo của ông Nguyễn Nhật T, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Nhật T cho rằng từ tháng 11/2020 đến khoản tháng 4/2024 ông có cho bà H vay tổng số tiền là 82.395.000.000 đồng, cụ thể 66 lần nộp tiền mặt vào tài khoản của bà H tổng số tiền là 70.326.300.000 đồng và 29 lần chuyển khoản vào tài khoản bà H với tổng số tiền 12.068.700.000 đồng. Bà H đã nộp tiền và chuyển tiền trả nợ cho ông được 71.629.000.000 đồng. Như vậy, số tiền bà H còn nợ lại là 10.766.000.000 đồng.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Diệp Mỹ H xác định hoàn toàn không có nợ nguyên đơn, mà tất cả các giao dịch chuyển khoản giữa ông T với bà H là do bà H cho ông T mượn tiền. Mục đích ông T mượn tiền bà H là để ông T cho người khác vay lại để đáo hạn ngân hàng và phục vụ mục đích cá nhân ông T. Bà H xác định thực chất số tiền 82.395.000.000 đồng là các khoản ông T vay của bà và hoàn trả lại cho bà.
- Để phản đối yêu cầu khởi kiện của ông T, bà H cung cấp các hình ảnh chát qua tài khoản Zalo là các tin nhắn giữa bà với T có nội dung T mượn tiền của bà. Ngoài ra, bà H cung cấp Vi bằng số 37/2025/VB-TPLBL ngày 05/6/2025 các hình ảnh tin nhắn zalo giữa bà H và ông T. Ông T nhắn tin mượn tiền bà H, trùng khớp với sao kê tài khoản của ông T.
- Ông T cho rằng, tài liệu bà H cung cấp là tài liệu giả tạo, bị cắt ghép nhưng không yêu cầu giám định. Nhận thấy, các tài liệu mà bà H cung cấp là tài liệu nhìn được, đồng thời bà H có giải trình nội dung, xuất xứ tài liệu. Do đó, tài liệu này được sử dụng là chứng cứ giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Từ các tin nhắn trên Zalo mà bà H cung cấp đối chiếu với sao kê tài khoản của ông Nguyễn Nhật T tại Ngân hàng TMCP P chi nhánh B từ ngày 01/6/2020 đến 28/10/2024 mà ông T cung cấp trùng khớp với từng lần ông T vay tiền của bà H cũng như bà H chuyển tiền cho ông T.
- Theo hình ảnh bà H cung cấp thể hiện số tài khoản 229599039 chuyển cho bà Diệp Mỹ H số tiền 20.400.000 đồngcó nội dung “ NGUYEN NHAT TIEN CHUYEN KHOAN TIEN LAI 06-010724”. Đối chiếu hình ảnh vi bằng số 37/2025/VB-TPLBL ngày 05/6/2025 xác định tài khoản Zalo tên “Tiến Huê” và “T” là cùng một người cũng là chủ tài khoản 229599039 ông Nguyễn Nhật T.
- Tại phiên tòa phúc thẩm ông T cho rằng hình ảnh Zalo bà H cung cấp là cắt ghép, giả tạo và việc Tòa cấp sơ thẩm sử dụng tài liệu này làm căn cứ giải quyết vụ án là vi phạm tố tụng và sai lầm trong đánh giá chứng cứ. Xét thấy, khi ông T không trả nợ thì bà H đã chụp màn hình tin nhắn giữa các bên để làm chứng, đồng thời bà H lập Vi bằng số 37/2025/VB-TPLBL ngày 05/6/2025 để chứng minh ông T hiện tại còn nợ bà.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T thừa nhận giao dịch chuyển tiền với số tiền 20.400.000 đồng ngày 01/7/2025 trên Vi bằng chứng minh ông T là người sử dụng zalo tên “T” để gửi chụp màn hình chuyển tiền cho bà H vì bà H không thể tự thực hiện giao dịch và chụp lại màn hình, từ đó cho thấy các tin nhắn Zalo nêu trên có căn cứ xác định là do ông T sử dụng, không có cơ sở xác định là cắt ghép, giả tạo như ông T trình bày.
- Tại phiên tòa phúc thẩm ông T nộp đơn yêu cầu Tạm đình chỉ giải quyết vụ án, do hiện tại ông T đã khởi kiện Văn phòng C1, hiện nay Tòa án khu vực 6 - Cà Mau đang thụ lý giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy đây là yêu cầu độc lập, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án này, nên không chấp nhận yêu cầu của ông T.
- Từ phân tích nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với các quy định của pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng. Tại phiên toà phúc thẩm, ông Nguyễn Nhật T không cung cấp tài liệu chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông.
- Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp nên được chấp nhận.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Nhật T không được chấp nhận nên phải chịu án phí.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Nhật T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 88/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau.
- - Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2, 9 Điều 95, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội.
- - Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- - Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 24 và khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Nhật T yêu cầu bà Diệp M H trả nợ gốc 10.766.000.000 đồng và nợ lãi 9%/năm tính từ ngày 25/6/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm là 242.235.000 đồng.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Nhật T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 119.008.235 đồng. Ông T đã nộp tạm ứng án phí là 59.410.000 đồng theo biên lai thu số 0011164 ngày 23/7/2025 được chuyển thu án phí; ông Nguyễn Nhật T còn phải nộp thêm là 59.598.235 đồng (Năm mươi chín triệu năm trăm chín mươi tám nghìn hai trăm ba mươi lăm đồng), nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Nhật T phải chịu 300.000 đồng. Vào ngày 10 tháng 10 năm 2025, Ông Nguyễn Nhật T đã dự nộp 300.000 đồng, biên lai số 001429, được chuyển thu.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lệ Kiều |
Bản án số 20/2025/DS-PT ngày 12/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 20/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
