Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀ QUẢNG

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HS-ST

Ngày 30-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Long Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Vi Văn Coóng

Bà: Hoàng Thị Viễn

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/TLST-HS, ngày 10 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân huyện Hà Quảng và Điểm cầu thành phần Nhà Tạm giữ Công an huyện H, đối với bị cáo:

Nông Văn T, sinh ngày 27 tháng 8 năm 1992; nơi sinh, nơi cư trú: xóm L, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn N và bà Nông Thị C; vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19-01-2024 đến nay, tại Nhà Tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lục Thị H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C, bào chữa cho bị cáo Nông Văn T; có mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

  • + Anh Triệu Văn D, sinh năm 1976;
  • + Anh Nông Văn Đ, sinh năm 1986;
  • + Anh Triệu Minh S, sinh năm 1996;

Cùng nơi cư trú: xóm L, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng; đều vắng mặt.

Công chức Tòa án, cán bộ, chiến sĩ Nhà tạm giữ hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến tại Điểm cầu thành phần:

  • + Bà: Lô Thị T1 - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng;
  • + Ông: Nguyễn Anh T2 - Cán bộ Nhà Tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng;
  • + Ông: Trần Tuấn D1 - Chiến sĩ Nhà Tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 18-01-2024, tại xóm L (xã Đ, huyện H), khi lực lượng chức năng đang tuần tra kiểm soát thì phát hiện Triệu Văn D (người làm chứng trong vụ án) có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Quá trình điều tra đã xác định được, D mua Heroine với bị cáo Nông Văn T về bản thân sử dụng. Kết quả khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bị cáo, đã thu giữ: Tại vị trí trên giường ngủ của Bị cáo thu được 01 gói giấy bạc có các vụn bột màu trắng; tại vị trí khe hở giữa các bao thóc cạnh giường ngủ của T thu được gói giấy trắng bên trong có các vụn bột màu trắng, 01 dao lam bằng kim loại và 26 mảnh giấy bạc. Kết quả cân đã xác định được, số chất bột màu trắng thu giữ trên giường ngủ của T có khối lượng tịnh là 0,09 gam, chất bột màu trắng thu giữ tại khe hở giữa các bao thóc cạnh giường ngủ của T có khối lượng tịnh là 0,03 gam, vật chứng được niêm phong và trưng cầu giám định theo quy định pháp luật.

Tại Kết luận giám định số 129/KL-KTHS, ngày 26-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh C, kết luận: 02 Mẫu chất bột màu trắng bên trong 02 phong bì niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại: Heroine (Heroin), có tên khoa học là D2, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25-8-2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiên chất.

Quá trình điều tra, bị cáo Nông Văn T khai nhận: Bản thân Bị cáo không sử dụng ma tuý, nhưng vì ham lợi nhuận cao từ việc bán ma tuý, nên chiều tối ngày 09-01-2024 Bị cáo đi xe khách từ nhà ra Thành phố C và đón xe đi Thành phố B tìm mua Heroine về bán kiếm lời. Tại bến xe khách Thành phố Bắc Ninh, Bị cáo gặp 01 người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) trông giống người nghiện nên hỏi mua Heroine với số tiền 7.000.000 đồng. Đợi khoảng 20 phút thì người này quay lại đưa cho Bị cáo 01 gói Heroine bọc trong lớp nilon màu đen, Bị cáo cất giấu ma túy vào túi quần và đi xe khách về nhà. Tại nơi ở, Bị cáo chia số Heroine vừa mua thành nhiều gói nhỏ để bán với giá 200.000 đồng/gói, nếu có người hỏi mua với số tiền nhiều hay ít hơn thì Bị cáo sẽ chia lại các gói ma tuý để bán tương ứng với giá tiền của người mua. Từ ngày 10-01-2024 đến ngày bị bắt (18-01-2024), Bị cáo đã nhiều lần bán ma tuý cho những

người nghiện là người làm chứng trong vụ án. Tuy nhiên, về thời gian, tổng số lần bán ma tuý Bị cáo không nhớ cụ thể, chỉ nhớ được những lần bán gần đây nhất là:

  • - Bán cho Triệu Văn D 03 lần: Ngày 16-01-2024 bán 01 gói Heroine /500.000 đồng, ngày 17 và 18-01-2024 mỗi ngày 01 gói/400.000 đồng, D nhắn tin mua hàng qua ứng dụng Zalo. Địa điểm các lần Bị cáo giao hàng đều tại khu vực đường vắng sau nhà anh Nông Văn M cùng xóm, vào khoảng 17, 18 giờ hằng ngày.
  • - Khoảng 18 giờ ngày 16-01-2024, Nông Văn Đ gọi điện qua ứng dụng Z hỏi mua Heroine và hẹn lấy hàng tại khu vực gần đường tỉnh lộ 204 trước cửa nhà T. Sau đó, T cầm 01 gói Heroine ra chỗ hẹn đưa cho Đ và cầm lấy số tiền mua ma tuý của Đ là 100.000 đồng.
  • - Bán cho Triệu Minh S 02 lần, do S nhắn tin qua ứng dụng Mesenger hỏi mua Heroine, cụ thể thời gian, địa điểm giao hàng như sau: Khoảng 12 giờ ngày 16-01-2024, T cầm 01 gói Heroine qua nhà đưa cho S rồi nhận lấy tiền 200.000 đồng; khoảng 12 giờ ngày 18-01-2024, S đến sau nhà T và T bán cho S 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng.

Quá trình bán ma tuý, Bị cáo sử dụng điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A05 (màu đen, số IMEI1: 354035904751367/01; số IMEI2: 354978664751368/01) thuộc sở hữu của Bị cáo, để trao đổi việc mua bán với các đối tượng nghiện nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKSHQ, ngày 08 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng truy tố Bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, đã xác định được những đối tượng nghiện ma túy (Triệu Văn D, Nông Văn Đ, Triệu Minh S) được mua Heroine với Bị cáo về để sử dụng, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Về đối tượng bán ma túy cho bị cáo Nông Văn T, do không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có cơ sở để xử lý trong cùng vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng trong phần tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và xử phạt Bị cáo từ 07 năm đến 08 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.
  • - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy tang vật gồm: Heroine, 01 dao lam và 26 mảnh giấy bạc; tịch thu, phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại SAMSUNG GALAXY A05 liên quan đến hành vi phạm tội; tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính từ việc Bị cáo phạm tội mà có là 7.670.000 đồng.

Áp dụng các điều 12, 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016, miễn án phí cho Bị cáo.

Người bào chữa trình bày Luận cứ bào chữa cho Bị cáo, nhất trí với kết luận của Kiểm sát viên về việc truy tố tội danh đối với Bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên thiếu hiểu biết pháp luật. Bị cáo thành khẩn khai báo, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để tuyên hình phạt đối với Bị cáo ở mức thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị. Nghề nghiệp Bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung; đề nghị miễn án phí cho Bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Quốc hội.

Tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi Bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và nhất trí với Luận cứ bào chữa. Bị cáo thừa nhận, số Heroine bị thu giữ, Bị cáo cất để bán cho những ai có nhu cầu mua; số tiền Bị cáo bị thu giữ khi bị bắt đều là số tiền Bị cáo bán ma tuý có được, gồm: bán cho D, Đ, S từ ngày 10-01-2024 đến ngày 18-01-2024. Trong khoảng thời gian từ ngày 16 đến ngày 18-01-2024 Bị cáo nhớ rõ thời gian, địa điểm giao bán ma túy cụ thể, tuy nhiên từ ngày 10-01-2024 đến ngày 15-01-2024 Bị cáo chỉ nhớ được bán cho D, Đ và S mỗi người một lần/ngày, có lần họ mua với số tiền 600.000 đồng hoặc 1.000.000 đồng, nhưng nay Bị cáo không nhớ được giờ, phút từng lần của từng người mua cụ thể trong những ngày này.

Lời khai của những người làm chứng Triệu Văn D, Nông Văn Đ, Triệu Minh S đều xác nhận là được mua Heroine với Bị cáo, như nội dung Bị cáo đã khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét hành vi của Bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố

Lời khai của Bị cáo tại phiên tòa đều phù hợp với Biên bản khám xét, thu giữ vật chứng, phù hợp với lời khai của những người làm chứng được trực tiếp mua Heroine với Bị cáo. Như vậy, đủ căn cứ và cơ sở kết luận từ ngày 10-01-2024 đến ngày 18-01-2024, Bị cáo đã bán H1 cho Triệu Văn D, Nông Văn Đ, Triệu Minh S rất nhiều lần (từ ngày 16-01-2024 đến ngày 18-01-2024 tổng cộng 06 lần; từ ngày 10-01-2024 đến ngày 15-01-2024 bán cho ba người, mỗi người 1 lần/ngày) và số Heroine bị thu giữ tại nơi ở Bị cáo cũng nhằm mục đích bán để kiếm lời. Với kết quả giám định các chất bột thu giữ từ Bị cáo là ma tuý, loại “Heroine” (Bản Kết luận giám định số 129/KL-KTHS, ngày 26-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh C) và trên cơ sở xác nhận của

những người làm chứng, sự thừa nhận của Bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ khác, đủ chứng cứ chứng minh rằng Bị cáo đã bán Heroine từ hai lần trở lên. Đây là những chứng cứ xác định Bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận các chứng cứ do Kiểm sát viên đưa ra.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định về “Tội mua bán trái phép chất ma túy”:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a)...

b) Phạm tội 02 lần trở lên;...

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có trình độ văn hoá và hiểu biết về pháp luật, nhận thức rõ Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, tiêu thụ, vận chuyển, mua bán chất ma túy. Bị cáo không phải là người nghiện ma túy, không bị lệ thuộc chất ma túy, nhưng chỉ vì hám lợi vật chất và bị cám dỗ bởi đồng tiền nên Bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý phạm tội, gieo rắc tệ nạn nghiện ma túy cho nhiều người. Hành vi phạm tội của Bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong cuộc đấu tranh đẩy lùi và bài trừ tệ nạn ma tuý đang ngày càng diễn biến phức tạp, làm gia tăng tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm minh hành vi phạm tội của Bị cáo thì mới đủ sức răn đe, làm gương cho người khác, đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm ma tuý ở địa phương.

[2] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ

Về nhân thân Bị cáo không có tiền án, tiền sự, lần phạm tội này không thuộc trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, trước Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa Bị cáo thành khẩn khai báo, thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ này của đại diện Viện kiểm sát và Người bào chữa.

[3] Về quyết định hình phạt

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của Bị cáo và tình tiết giảm nhẹ được áp dụng đối với Bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của Người bào chữa cho Bị cáo được hưởng hình phạt ở mức đề nghị khởi điểm về hình phạt của đại diện Viện kiểm sát là nhẹ, chưa đảm bảo tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của Bị cáo, do đó không đủ cơ sở chấp nhận. Xét thấy, đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát ở mức hình phạt cao là có căn cứ, phù hợp với

quy định pháp luật, cần chấp nhận. Để đảm bảo cải tạo, giáo dục Bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chung, cần cách ly Bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục Bị cáo trở thành người công dân lương thiện và đáp ứng yêu cầu công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm.

[4] Về hình phạt bổ sung

Xét thấy, Bị cáo trước khi phạm tội không có thu nhập ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

[5] Việc xử lý vật chứng

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần xử lý như sau:

  • - Chất ma túy thu được của Bị cáo (niêm phong theo quy định), kết quả giám định là Heroine, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 26 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 dao lam bằng kim loại, là công cụ dùng cho việc phạm tội không có giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A05, màu đen (số IMEI1: 354035904751367/01; số IMEI2: 354978664751368/01) thuộc sở hữu của Bị cáo, dùng làm phương tiện trao đổi bán ma tuý, cần tịch thu, phát mại nộp tiền vào ngân sách Nhà nước.
  • - Số tiền tạm thu giữ từ Bị cáo 7.670.000 đồng: Xét thấy, giữa Bị cáo và những người làm chứng đều xác nhận có giao dịch mua bán ma tuý, đây số tiền do Bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

[6] Về án phí

Bị cáo là người bị kết án, theo quy định phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, xét thấy Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và Bị cáo có Đơn đề nghị miễn nộp án phí. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các điều 9, 12, 15, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án), Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, Người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nông Văn T 08 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày Bị cáo bị bắt tạm giữ, là ngày 19-01-2024.

2. Việc xử lý vật chứng

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Tịch thu, tiêu hủy:

  • + 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: "Số 129/KL-KTHS mẫu số 01 hoàn mẫu giám định vụ Nông Văn T có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý". Mặt sau phong bì có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng hình đỏ dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh C.
  • + 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: 01 (một) dao lam và 26 mảnh giấy bạc thu giữ đối với Nông Văn T ngày 18-01-2024”. Mặt sau phong bì có chữ ký của Nông Văn T cùng thành phần tham gia niêm phong cùng hình đỏ dấu giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Cao Bằng.

Tịch thu, phát mại nộp tiền vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A05 (màu đen, số IMEI1: 354035904751367/01; số IMEI2: 354978664751368/01, đã qua sử dụng) thuộc sở hữu của Bị cáo, chiếc điện thoại được niêm phong trong phong bì mặt trước ghi: “Điện thoại thu giữ của Nông Văn T”, mặt sau phong bì có chữ ký của Nông Văn T cùng thành phần tham gia niêm phong cùng hình đỏ dấu giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Cao Bằng.

Tịch thu số tiền 7.670.000 đồng (bảy triệu sáu trăm bảy mươi nghìn đồng chẵn) của Bị cáo do phạm tội mà có, nộp vào ngân sách Nhà nước.

Xác nhận:

Toàn bộ các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Quảng, theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09-5-2024; số tiền tạm thu giữ từ Bị cáo 7.670.000 đồng đã chuyển vào tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Quảng, theo giấy Ủy nhiệm chi ngày 09-5-2024 của Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng.

3. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các điều 9, 12, 15, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,

Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông văn T3.

4. Về quyền kháng cáo

Căn cứ vào các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - VKSND huyện Hà Quảng;
  • - VKSND tỉnh Cao Bằng;
  • - TAND tỉnh Cao Bằng;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra
  • Công an H. Hà Quảng;
  • - Cơ quan THAHS Công an H. Hà Quảng;
  • - Nhà Tạm giữ Công an H. Hà Quảng;
  • - Chi cục THADS huyện Hà Quảng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Long Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 20/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự Nông Văn T - phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger