Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BA ĐÔN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19 - 8 - 2024

V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Hải Phú và ông Võ Xuân Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thục Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 48/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm: 1983;

Nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm: 1982;

Nơi cư trú: tổ dân phố D, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai, tại phiên hoà giải, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn H có quá trình tìm hiểu và đi đến kết hôn hoàn toàn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vào ngày 26/02/2008. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được 02 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng hay bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung; anh H không lo lắng làm ăn, không quan tâm đến cuộc sống của vợ con dẫn đến thường xuyên cãi vã, cuộc sống không hạnh phúc. Chị đã đưa con về sinh sống với gia đình bên ngoại từ năm 2012 đến nay, hai bên không ai quan tâm gì đến ai nữa. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung, tên là Nguyễn Nhật Đ, sinh ngày 19/8/2010. Chị có nguyện vọng sau khi ly hôn được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu anh H đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Chị và anh H không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, phiên hoà giải, bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh và anh chị Nguyễn Thị Thu T có quá trình tìm hiểu và đi đến kết hôn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vào ngày 26/02/2008. Quá trình chung sống do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nên từ năm 2012, chị T đưa con về nhà mẹ đẻ ở xã Q, huyện Q sinh sống nên vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, không quan tâm gì đến nhau. Nay chị T xin được ly hôn thì chị T tự làm việc với Toà án chứ anh không có ý kiến gì.

Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Nhật Đ, sinh ngày 19/8/2010. Từ nhỏ tới nay cháu sống cùng với mẹ, hiện nay cháu cũng đã lớn nên nếu ly hôn thì cháu sống với ai tuỳ cháu quyết định, anh không có ý kiến gì.

Vợ chồng không có tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 18/7/2024, anh Nguyễn Văn H đã có Đơn xin xét xử vắng mặt gửi đến Toà án, nội dung đơn anh xin được vắng mặt tại phiên toà và đề nghị giữ nguyên các ý kiến như anh đã trình bày ở bản tự khai, phiên hoà giải.

Tại phiên toà: nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T giữ nguyên các ý kiến, yêu cầu như đã trình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình hoà giải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thu T có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn H và giải quyết về con chung của vợ chồng, như vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn H có nơi cư trú tại tổ dân phố D, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H đã được triệu tập hợp lệ và đã có đơn xin xét xử vắng mặt gửi đến Toà án nên căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu T và anh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên quan hệ hôn nhân của hai người là hoàn toàn hợp pháp. Cả chị T và anh H đều thừa nhận do quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn nên anh chị thường xuyên cãi cọ, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên anh chị đã ly thân từ năm 2012 đến nay, không quan tâm gì đến nhau nữa. Chị T xác định hai bên không còn tình cảm với nhau, anh H cũng không có ý định hàn gắn, níu kéo tình cảm vợ chồng mà đề nghị chị T tự giải quyết với Toà án về việc ly hôn. Vì vậy, có thể thấy mâu thuẫn của chị T và anh H đã rất trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn có hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị T được ly hôn với anh H là phù hợp.

[3] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Thu T và anh Nguyễn Văn H có 01 con chung như chị T, anh H đã trình bày. Quá trình giải quyết vụ án, chị T, trình bày nguyện vọng sau khi ly hôn để chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu anh H đóng góp cấp dưỡng nuôi con, anh H cũng thừa nhận từ nhỏ đến nay cháu đều sống với mẹ và việc lựa chọn ở với ai tuỳ cháu quyết định, anh không có ý kiến gì về giải quyết con chung. Ngày 31/7/2024, cháu Nguyễn Nhật Đ có Đơn trình trình bày nguyện vọng mong muốn được ở với mẹ.

Xét thấy ý kiến về việc nuôi con của chị T, anh H là tự nguyện và cũng phù hợp với nguyện vọng của con nên cần căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là Nguyễn Nhật Đ cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về quan hệ tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị T, anh H đều thống nhất trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: chị Nguyễn Thị Thu T phải nộp toàn bộ án phí ly hôn để sung vào Ngân sách nhà nước, được khấu trừ vào khoản tạm ứng án phí đã nộp trước đây theo quy định.

[6] Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Văn H.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu T, xử cho chị Nguyễn Thị Thu T ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
  3. Về quan hệ con chung: chị Nguyễn Thị Thu T và anh Nguyễn Văn H có 01 con chung là Nguyễn Nhật Đ, sinh ngày 19/8/2010. Sau khi chị T và anh Hải ly h, giao con chung Nguyễn Nhật Đ cho chị Nguyễn Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng; anh Nguyễn Văn H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn H có quyền và nghĩa vụ qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở

  4. Về quan hệ tài sản chung: Không xem xét.
  5. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu T chịu trách nhiệm nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn để sung vào Ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp trước đây tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003373 ngày 02 tháng 7 năm 2024. Chị T đã nộp đủ tiền án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND thị xã Ba Đồn;
  • - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
  • - UBND xã Quảng Thanh, h. Quảng Trạch (Giấy CNKH số 05, ngày 26/02/2008);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình về tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 20/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận cho ly hôn, giải quyết về con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger