|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/KDTM-ST Ngày: 15-7-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tô Đông Đức
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Thành Trung
2. Bà Nguyễn Huỳnh Hồng Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2023/TLST-KDTM ngày 09 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-KDTM ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2024/QĐST-KDTM ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng N (A); địa chỉ: Số B đường L, phường T, Quận B, thành phố Hà Nội; địa chỉ liên lạc: Số D đường L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Anh T hoặc bà Võ Thị Lệ T1; địa chỉ: Số D L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Quyết định số 2965/QĐ-NHNo-PC ngày 27/12/2019, Giấy ủy quyền số 919/GUQ-NHNo11-TH ngày 17/11/2022) (bà Võ Thị Lệ T1 có mặt)
2. Bị đơn: Công ty TNHH T4; địa chỉ: Số E đường T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu D, chức vụ: Giám đốc, địa chỉ: Số E đường T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Hữu D, sinh năm 1970 (vắng mặt)+
- Bà Vũ Thị Hải Y, sinh năm 1986 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Hữu D1, sinh năm 1938 (vắng mặt)
- Bà Hà Thị L, sinh năm 1945 (vắng mặt)
- Ông/bà Đoàn M, sinh năm 2001 (vắng mặt)
- Cháu Nguyễn Vũ Hùng C, sinh ngày 20/7/2009. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu D, sinh năm 1970 (vắng mặt)
- Cháu Nguyễn Vũ Ngọc S, sinh ngày 28/10/2010. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu D, sinh năm 1970 (vắng mặt)
- Cháu Nguyễn Vũ Thùy T2, sinh ngày 14/7/2006 (vắng mặt)
Ông Nguyễn Hữu D, bà Vũ Thị Hải Y, ông Nguyễn Hữu D1, bà Hà Thị L, ông/bà Đoàn M, cháu Nguyễn Vũ Hùng C, cháu Nguyễn Vũ Ngọc S, cháu Nguyễn Vũ Thùy T2 cùng địa chỉ: Số 574 đường Trần Hưng Đạo, Phường 14, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh
- Bà Lê Thị H, sinh năm 1986 (vắng mặt)
- Ông Lê Thành Đ, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Bà Lê Thị H, ông Lê Thành Đ địa chỉ: Số F đường A, khu phố F, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/8/2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 27/02/2019, Công ty TNHH T4 (gọi tắt là Công ty T4) có ký kết Hợp đồng tín dụng số: 6480-LAV-201900057 với Ngân hàng N (gọi tắt là A) với hạn mức cấp tín dụng: 20.000.000.000 đồng. Thời hạn hiệu lực hạn mức cấp tín dụng: 12 tháng; Ngày đến hạn hạn mức: 27/02/2020 và đã được gia hạn đến ngày 27/5/2020. Lãi suất tiền vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là: 9,0%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150%/lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả: 5%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Sau đó, các bên lần lượt ký kết Hợp đồng sửa đổi bổ sung số: 6480-LAV-201900057/03SĐBS ngày 30/3/2020; Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng tín dụng số: 6480-LAV-201900057/BS ngày 05/6/2021, Phụ lục Hợp đồng tín dụng số: 6480-LAV-201900057/02 ngày 17/02/2020. A Chi nhánh 11 chấp thuận giải ngân cho Công ty T4 theo Hợp đồng tín dụng số: 6480-LAV-201900057 ngày 27/02/2019 với tổng số tiền là : 17.290.000.000 đồng, chi tiết như sau:
- Số tiền giải ngân 7.643.000.000 đồng theo số giải ngân: 6480LDS201900932, ngày giải ngân: 05/12/2019, ngày đến hạn: 05/6/2023 (lãi suất 9%/năm).
- Số tiền giải ngân 9.647.000.000 đồng theo số giải ngân: 6480LDS201900933, ngày giải ngân: 05/12/2019, ngày đến hạn: 05/6/2023 (lãi suất 9%/năm).
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và các nghĩa vụ có liên quan của Công ty T4 theo Hợp đồng tín dụng số: 6480-LAV-201900057 ngày 27/02/2019, các bên thống nhất thế chấp tài sản như sau:
+ Tài sản thứ nhất: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại: số E T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể:
Quyền sử dụng đất: Thửa đất số: 73; Tờ bản đồ số: 17; Diện tích: 80,3 m²; Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng: 80,3 m²
Tài sản gắn liền với đất: Nhà ở : Địa chỉ: E T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Diện tích xây dựng: 80,26 m²; Tổng diện tích sử dụng: 397,7 m²; Kết cấu: Tường gạch, Sàn BTCT, mái BTCT; cấp: 3. Số tầng: Hầm + 5 tầng + lửng + sân thượng.
Giấy tờ tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành: BN 598866, vào sổ cấp GCN số: CH08874 do Ủy ban nhân dân Quận E - Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/9/2013 do ông Nguyễn Hữu D đứng tên chủ sở hữu và sử dụng.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 6480-LCL-201700305 (số công chứng: 26517, quyển số 10) lập ngày 31/10/2017 tại Phòng C1, được ký kết giữa Bên nhận thế chấp là A Chi nhánh 11, bên thế chấp là ông Nguyễn Hữu D, bên được bảo đảm Công ty TNHH T4.
Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ1, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 31/10/2017.
+ Tài sản thứ hai: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại: số F A, Khu phố F, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể:
Quyền sử dụng đất: Thửa đất số: 376; Tờ bản đồ số: 10 (Sơ đồ nền); Diện tích: 108,7 m²; Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng: 108,7 m²
Tài sản gắn liền với đất: Nhà ở : Địa chỉ: Nhà F A, Khu phố F, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Diện tích xây dựng: 68,1 m²; Tổng diện tích sử dụng: 68,1 m²; Kết cấu: Vách gạch, mái tôn. Số tầng: 01
Giấy tờ tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở, số hồ sơ gốc số: 9192/2002 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 05/04/2002, đăng ký thay đổi chủ sở hữu gần nhất 03/7/2018 do ông Nguyễn Hữu D đứng tên chủ sở hữu và sử dụng.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số: 6480-LCL-201800228 (số công chứng: 17193, quyển số 07) lập ngày 11/7/2018 tại Phòng C1 được ký kết giữa Bên nhận thế chấp là A Chi nhánh 11, bên thế chấp là ông Nguyễn Hữu D, bà Vũ Thị Hải Y, bên được bảo đảm Công ty T4.
Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận B ngày 12/7/2018.
Tính đến hết ngày 22/5/2023 tổng số tiền tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) mà Công ty T4 phải trả cho A Chi nhánh 11 là: 22.238.350.630 đông, trong đó: Số tiền gốc: 17.290.000.000 đồng; Số tiền lãi tính đến ngày 22/5/2023: 4.948.350.630 đồng.
A Chi nhánh A1 đã nhiều lần làm việc trực tiếp và yêu cầu Công ty T4 thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên theo thỏa thuận. Tuy nhiên, tính đến nay, Công ty T4 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho A, vì vậy, A khởi kiện
Công ty T4, đề nghị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xem xét, giải quyết:
- Tuyên buộc Công ty T4 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A với tổng số tiền (tạm tính đến ngày 25/8/2022) là 21.253.274.521 đồng, trong đó: Số tiền gốc: 17.290.000.000 đồng; số tiền lãi: 3.963.274.521 đồng.
- Tuyên buộc Công ty T4 tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 6480-LAV-201900057 ngày 27/02/2019 kể từ ngày 26/8/2022 cho đến ngày thực tế Công ty T4 trả hết nợ gốc cho A.
- T3 nếu Công ty T4 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì A thông qua A Chi nhánh 11 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm và bất kỳ tài sản nào của Công ty T4 và người có liên quan, kể cả quyền đòi nợ (nếu có) để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- Tuyên nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho A thì A thông qua A Chi nhánh 11 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty T4 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, A rút yêu cầu về việc xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty T4 và người có liên quan, kể cả quyền đòi nợ (nếu có) để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn thống nhất với các Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15/6/2023 và ngày 16/6/2023 đối với các tài sản bảo đảm.
* Người đại diện hợp pháp của của bị đơn Công ty T4 - ông Nguyễn Hữu D - đề nghị nguyên đơn đồng ý đề xuất sau:
- Đến ngày 05/6/2024, bị đơn thực hiện việc trả 1.000.000.000 đồng để trừ vào nợ gốc;
- Đến ngày 30/6/2024,bị đơn trả 2.000.000.000 đồng để trừ vào nợ gốc và bàn giao tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại số F A, Khu phố F, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho A để xử lý tài sản.
- Đến ngày 30/9/2024, bị đơn sẽ trả toàn bộ số tiền còn nợ A.
Đối với Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15/6/2023 và ngày 16/6/2023, bị đơn không có ý kiến.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Hải Y, ông Nguyễn Hữu D1, bà Hà Thị L, ông/bà Đoàn M, cháu Nguyễn Vũ Hùng C, cháu Nguyễn Vũ Ngọc S, cháu Nguyễn Vũ Thùy T2, bà Lê Thị H, ông Lê Thành Đ:
Tòa án nhân dân Quận 11 đã tiến hành đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phản hồi ý kiến.
Tại phiên tòa:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – bà Võ Thị Lệ T1 – cho biết quá trình chuẩn bị xét xử, Công ty T4 đã trả cho A số tiền 500.000.000 đồng; bà T1 cung cấp bảng tính lãi tạm tính đến ngày 15/7/2024, yêu cầu Tòa án:
- Tuyên buộc Công ty T4 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A toàn bộ số tiền tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) đến hết ngày 15/7/2024 tổng dư nợ của Công ty T4 tại A Chi nhánh 11 là: 24.964.936.025 đồng, trong đó: Số tiền gốc: 16.790.000.000 đồng; tổng nợ lãi: 8.174.936.025 đồng (lãi trong hạn: 6.738.139.946 đồng, lãi quá hạn: 1.436.796.079 đồng).
- Tuyên buộc Công ty T4 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 6480-LAV-201900057 ngày 27/02/2019 kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án/quyết định cho đến ngày thực tế Công ty T4 trả hết nợ gốc cho A.
- Tuyên nếu Công ty T4 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì A thông qua A Chi nhánh 11 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại: số E T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại: số F A, Khu phố F, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. A được quyền ưu tiên thanh toán các khoản nợ từ việc xử lý các tài sản thế chấp trên.
Đối với chi phí xem xét, thẩm định là 20.000.000 đồng, nguyên đơn đề nghị đưa vào chi phí phía bị đơn phải chịu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án nhân dân Quận 11, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên trong Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng. Việc tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, thông báo, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; việc tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đương sự và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát được thực hiện đúng với quy định của pháp luật. Tuy nhiên vẫn chưa đảm bảo thời hạn giao Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án.
- Về nội dung vụ án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc Công ty T4 có nghĩa vụ thanh toán cho A số nợ 24.964.936.025 đồng (trong đó, nợ gốc: 16.790.000.000 đồng, nợ lãi: 8.174.936.025 đồng) và tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 16/7/2024 cho đến khi Công ty T4 trả xong nợ cho A theo quy định tại các thỏa thuận đã ký trong hợp đồng.
Trường hợp Công ty T4 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì A có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại: số E T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại: số F A, Khu phố F, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Công ty S1 xong khoản nợ trước khi cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp thì A có nghĩa vụ tiến hành các thủ tục giải chấp và trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp là bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành: BN 598866, vào sổ cấp GCN số: CH08874 do Ủy ban nhân dân Quận E - Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/9/2013 và Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở, số hồ sơ gốc số: 9192/2002 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 05/4/2002, đăng ký thay đổi chủ sở hữu gần nhất 03/07/2018 cho chủ sở hữu các tài sản trên.
Đình chỉ yêu cầu xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty T4 và người có liên quan, kể cả quyền đòi nợ (nếu có) để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Chi phí thẩm định bị đơn chịu.
Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: bị đơn chịu án phí trên số tiền nguyên đơn được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng N (A) khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với Công ty TNHH T4. Đây là tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 10.2 Điều 10 Hợp đồng tín dụng số: 6480-LAV-201900057 ngày 27/02/2019 ghi nhận “... Trong trường hợp không thương lượng được, các bên thống nhất giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân Quận 11, TP H”, A chi nhánh A1 có trụ sở tại Quận A nên Tòa án nhân dân Quận 11 thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Phiên tòa xét xử vụ án được mở vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 20 tháng 6 năm 2024 và lúc 083015 tháng 7 năm 2024; bị đơn Công ty T4, người đại diện theo pháp luật của bị đơn ông Nguyễn Hữu D; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu D, bà Vũ Thị Hải Y, ông Nguyễn Hữu D1, bà Hà Thị L, ông/bà Đoàn M, cháu Nguyễn Vũ Hùng C, cháu Nguyễn Vũ Ngọc S, cháu Nguyễn Vũ Thùy T2, bà Lê Thị H, ông Lê Thành Đ đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ án nêu trên nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho Công ty T4 các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết
định đưa vụ án ra xét xử. Thông báo về việc thụ lý vụ án đã ghi rõ nội dung sự việc, yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn. Tại phiên họp hòa giải, người đại diện hợp pháp của bị đơn không có ý kiến đối với số tiền gốc và lãi nêu trên của nguyên đơn, thống nhất với các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp.
[3.1] Về yêu cầu thanh toán nợ, lãi của nguyên đơn:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số: 6480-LAV-201900057 ngày 27/02/2019, Hợp đồng sửa đổi bổ sung số: 6480-LAV-201900057/03SĐBS ngày 30/3/2020; Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng tín dụng số: 6480-LAV-201900057/BS ngày 05/6/2021, Phụ lục Hợp đồng tín dụng số: 6480-LAV-201900057/02 ngày 17/02/2020 được ký kết giữa A chi nhánh A1 và Công ty T4, có cơ sở để xác định phía bị đơn đã vay của nguyên đơn số tiền 17.290.000.000 đồng, mục đích vay vốn: bổ sung vốn kinh doan, buôn bán vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng. Đây là giao dịch dân sự trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung nên được thừa nhận, được bảo vệ và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía bị đơn không thanh toán đúng hạn, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định tại Điều 5 Hợp đồng tín dụng số: 6480-LAV-201900057 ngày 27/02/2019 nên việc A khởi kiện yêu cầu phía bị đơn trả toàn bộ số nợ còn lại và tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 95, Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 13, Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu về thanh toán nợ của nguyên đơn, buộc Công ty S1 cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 15/7/2024 là 24.964.936.025 đồng, trong đó: Số tiền gốc: 16.790.000.000 đồng; tổng nợ lãi: 8.174.936.025 đồng (lãi trong hạn: 6.738.139.946 đồng, lãi quá hạn: 1.436.796.079 đồng).
Ngoài ra, phía bị đơn còn phải trả tiền lãi phát sinh từ ngày 16/7/2024 cho đến khi thanh toán xong số nợ theo lãi suất quy định trong theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 6480-LAV-201900057 ngày 27/02/2019 cho đến ngày thực tế Công ty T4 trả hết nợ gốc cho A.
[3.2] Về yêu cầu đối với tài sản bảo đảm của nguyên đơn:
Những Hợp đồng thế chấp trên được ký giữa A chi nhánh A1 và Công ty T4, gồm:
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 6480-LCL-201700305 (số công chứng: 26517, quyển số 10) lập ngày 31/10/2017 tại Phòng C1 (Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số E T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành: BN 598866, vào sổ cấp GCN số: CH08874 do Ủy ban nhân dân Quận E - Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/9/2013). Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ1, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 31/10/2017.
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số: 6480-LCL-201800228 (số công chứng: 17193, quyển số 07) lập ngày 11/7/2018 tại Phòng C1 (Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số F A, Khu phố F, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở, số hồ sơ gốc số: 9192/2002 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 05/4/2002, đăng ký thay đổi chủ sở hữu gần nhất 03/7/2018). Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận B ngày 12/7/2018.
Những Hợp đồng thế chấp trên được ký kết tuân thủ theo quy định tại Điều 295, Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc thế chấp tài sản. Hợp đồng thế chấp nói trên cũng đã tiến hành giao dịch bảo đảm đúng quy định tại Điều 298 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ quy định về giao dịch bảo đảm.
Vì vậy, Hợp đồng thế chấp nói trên có giá trị pháp lý. Từ những nhận định trên, căn cứ Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn trường hợp phía bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì A thông qua A chi nhánh 11 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm có thông tin như đã nêu ở trên.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm sẽ được thanh toán theo thứ tự ưu tiên như sau:
- Chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cần thiết khác có liên quan để xử lý tài sản thế chấp;
- Thanh toán số tiền mà phía bị đơn phải trả cho nguyên đơn theo thứ tự: Nợ gốc, tiền lãi.
Sau khi đã thanh toán, nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm còn thừa sẽ được trả lại cho chủ sở hữu và sử dụng của tài sản bảo đảm. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho nguyên đơn thì Công ty T4 phải tiếp tục trả số phần tiền còn thiếu, trên cơ sở phù hợp với các quy định pháp luật về tài sản bảo đảm và pháp luật thi hành án dân sự.
Trường hợp Công ty S1 xong khoản nợ trước khi cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp thì A có nghĩa vụ tiến hành các thủ tục giải chấp và trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho chủ sở hữu và sử dụng.
[3.3] Về yêu cầu bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của A nên Công ty T4 chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 20.000.000 đồng. A đã nộp tạm ứng chi phí trên, vì vậy, Công ty T4 trả cho A tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền trong giai đoạn thi hành án.
[3.4] Đối với yêu cầu Toà án tuyên A chi nhánh 11 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bị đơn
và người liên quan, kể cả quyền đòi nợ (nếu có) để thu hồi nợ theo quy định pháp luật:
Nguyên đơn đã rút yêu cầu này. Việc rút yêu cầu này là tự nguyện, do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này.
[4] Về án phí:
Căn cứ khoản 4 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại có giá ngạch đối với yêu cầu buộc bị đơn trả số tiền là 24.964.936.025 đồng của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận; nguyên đơn không phải chịu án dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 157; Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 266; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 325 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 13, Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng N (A), buộc Công ty TNHH S1 cho Ngân hàng N (A) khi bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 15/7/2024 là 24.964.936.025 (hai mươi bốn tỷ, chín trăm sáu mươi bốn triệu, chín trăm ba mươi sáu nghìn, không trăm hai mươi lăm) đồng, trong đó:
- Số tiền gốc: 16.790.000.000 (mười sáu tỷ, bảy trăm chín mươi triệu) đồng;
- Tổng nợ lãi: 8.174.936.025 (tám tỷ, một trăm bảy mươi bốn triệu, chín trăm ba mươi sáu nghìn, không trăm hai mươi lăm) đồng, gồm: Lãi trong hạn là 6.738.139.946 (chín tỷ, bảy trăm ba mươi tám triệu, một trăm ba mươi chín nghìn, chín trăm bốn mươi sáu) đồng, lãi quá hạn là 1.436.796.079 (một tỷ, bốn trăm ba mươi sáu triệu, bảy trăm chín mươi sáu nghìn, không trăm bảy mươi chín) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty TNHH T4 còn phải trả tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong số nợ theo lãi suất quy định trong Hợp đồng tín dụng số: 6480-LAV-201900057 ngày 27/02/2019.
Trường hợp phía bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng N (A) thông qua Ngân hàng N (A) chi nhánh 11 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, gồm:
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số E T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành: BN 598866, vào sổ cấp GCN số: CH08874 do Ủy ban nhân dân Quận E - Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/9/2013.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số F A, Khu phố F, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở, số hồ sơ gốc số: 9192/2002 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 05/4/2002, đăng ký thay đổi chủ sở hữu gần nhất 03/7/2018.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm sẽ được thanh toán theo thứ tự ưu tiên như sau:
- Chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cần thiết khác có liên quan để xử lý tài sản thế chấp;
- Thanh toán số tiền mà phía bị đơn phải trả cho nguyên đơn theo thứ tự: Nợ gốc, tiền lãi.
Sau khi đã thanh toán, nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm còn thừa sẽ được trả lại cho chủ sở hữu và sử dụng của tài sản bảo đảm. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho nguyên đơn thì Công ty TNHH T4 phải tiếp tục trả số phần tiền còn thiếu, trên cơ sở phù hợp với các quy định pháp luật về tài sản bảo đảm và pháp luật thi hành án dân sự.
Trường hợp Công ty TNHH S1 xong khoản nợ trước khi cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng N (A) có nghĩa vụ tiến hành các thủ tục giải chấp và trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho chủ sở hữu và sử dụng.
Công ty TNHH T4 trả cho Ngân hàng N (A) số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ là 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền trong giai đoạn thi hành án.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu Toà án tuyên Ngân hàng N (A) chi nhánh 11 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bị đơn và người liên quan, kể cả quyền đòi nợ (nếu có) để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
3. Về án phí:
Công ty TNHH T4 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại có giá ngạch là 132.964.936 (một trăm ba mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi bốn nghìn, chín trăm ba mươi sáu) đồng.
Ngân hàng N (A) được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 64.626.638 (sáu mươi bốn triệu, sáu trăm hai mươi sáu nghìn, sáu trăm ba mươi tám) đồng theo
Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0020883 ngày 06/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Tô Đông Đức |
Bản án số 20/2024/KDTM-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 20/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
