Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/KDTM-PT

Ngày: 23/5/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Dung
  • - Các thẩm phán: Ông Võ Bảo Anh
  • Bà Hà Thị Phương Thanh
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ban – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lương Sơn Bá – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2023/TLPT-KDTM ngày 29 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXPT-KDTM ngày 15 tháng 3 năm 2024.

Do Bản án sơ thẩm số 06/2023/KDTM-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn có kháng cáo, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) – Nay là Ngân hàng TMCP X (E).

Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q1 và khai thác tài sản – Ngân hàng TMCP X (E).

Trụ sở: Tầng D, Tòa nhà B T, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đặng Thị Ngọc T – Chức vụ: Phó Phòng xử lý và thu hồi nợ.

Bà Bùi Nguyễn Quỳnh N – Chức vụ: Chuyên viên Phòng xử lý và thu hồi nợ.

Bà Trần Lê Phương T1 – Chức vụ: Chuyên viên Phòng xử lý và thu hồi nợ.

(Giấy ủy quyền ngày 22/8/2023).

Cùng địa chỉ: Tầng D, Tòa nhà B T, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh (Bà T1 có mặt).

* Bị đơn: Công ty cổ phần T4 – Nay là Công ty cổ phần T5 – Cần Thơ.

Trụ sở: Lô 2.17, Khu công nghiệp T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Triệu Việt T2 và ông Lê H (Giấy ủy quyền ngày 26/8/2022). Yêu cầu xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Lô B, Khu công nghiệp T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Võ Thành K, sinh năm 1956. Nơi công tác cũ: Công ty cổ phần T4 (Nay là Công ty cổ phần T5 – Cần Thơ).
  2. Trụ sở công ty: Lô 2.17, Khu công nghiệp T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

    Nơi cư trú cuối cùng: Xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An - nay là thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (Vắng mặt).

  3. Phòng C thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Địa chỉ: Số I P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt).

Người kháng cáo: Công ty cổ phần T4 – Nay là Công ty cổ phần T5 – Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/12/2014, đơn đề nghị tiếp tục giải quyết vụ án đề ngày 22/5/2020, bản tự khai ngày 19/6/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn (có bà Bùi Nguyễn Quỳnh N đại diện theo ủy quyền) trình bày:

Ngân hàng TMCP X (E) và Công ty cổ phần T4 (nay là Công ty cổ phần T5 – Cần Thơ) đã ký kết các hợp đồng tín dụng như sau:

  • - Ngày 23/8/2010 E ký Hợp đồng tín dụng số 1401-LAV-201006468 cho Công ty cổ phần T4 vay số tiền: 25.000.000.000 đồng (Hai mươi lăm tỷ đồng), mục đích vay: đầu tư xây dựng trung tâm sản xuất giống cá tra. Thực hiện Hợp đồng tín dụng trên, E đã giải ngân và Công ty cổ phần T4 đã nhận nợ theo Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 1401-LDS-201007902 ngày 23/8/2010; nội dung: số tiền vay: 25.000.000.000 đồng, thời hạn vay 84 tháng; lãi suất cho vay 15%/năm, lãi suất quá hạn 150%/lãi suất cho vay.
  • - Ngày 25/8/2010 E ký Hợp đồng tín dụng số 1401-LAV-201006507, số tiền vay: 548.800 USD (Năm trăm bốn mươi tám ngàn tám trăm đôla Mỹ); Mục đích vay là thanh toán LC số 1401ILSEIB100058 để nhập khẩu máy móc thiết bị. Thực hiện Hợp đồng tín dụng trên, E đã giải ngân và Công ty cổ phần T4 đã nhận nợ theo Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 1401-LDS-201007977 ngày 25/8/2010; nội dung: số tiền vay: 548.800 USD, thời hạn vay 36 tháng (từ ngày 25/10/2010 đến ngày 25/8/2013), lãi suất cho vay: 6,6%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay.

Tài sản đảm bảo các khoản vay gồm:

  • - Tài sản gắn liền với đất: Viện nghiên cứu thủy sản B, tại địa chỉ: Lô B, KCN T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ do Công ty cổ phần T4 sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT00034 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 21/10/2011. (Hợp đồng thế chấp số 339/EIB/SG-TD/TSTS/2011, được công chứng tại Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ ngày 14/12/2011; Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C ngày 19/12/2011).
  • - Một dây chuyền hoàn chỉnh tẩm bột và chiên tại địa chỉ: Lô B KCN T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ do Công ty cổ phần T4 sở hữu theo Tờ khai hàng hóa nhập khẩu số 3521/NK/NĐT ngày 15/09/2010; Phụ lục tờ khai hàng hóa nhập khẩu ngày 14/09/2010. (Hợp đồng thế chấp số 346/EIB/SG-TD/TCTS/2011 được công chứng tại Phòng C ngày 15/12/2010; Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/12/2010).

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty cổ phần T4 (gọi tắt là Công ty T4) đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Khoản nợ Công ty T4 đã quá hạn từ ngày

25/12/2011, E đã nhiều lần làm việc với Công ty T4 yêu cầu trả nợ nhưng Công ty vẫn không thanh toán nợ cho E.

Ngày 18/11/2013, Ngân hàng E đã bán toàn bộ khoản nợ của Công ty T4 cho Công ty TNHH MTV Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) theo Hợp đồng mua, bán nợ số 01/VAMC-EXIMBANK ngày 18/11/2013, bao gồm toàn bộ các khoản nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh. Vì vậy, kể từ ngày 18/11/2013, VAMC trở thành chủ nợ khoản nợ vay của Công ty T4.

Ngày 17/3/2014, VAMC và E đã ký Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng ủy quyền số 01/VAMC-EXIMBANK/01, VAMC ủy quyền cho E khởi kiện, tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp, làm việc với Cơ quan Thi hành án, các cơ quan tổ chức khác để giải quyết vụ việc khởi kiện đòi nợ khách hàng vay và các bên có liên quan.

Tạm tính đến ngày 19/6/2023, Công ty T4 còn nợ E tổng số tiền nợ gốc và lãi phát sinh là 95.073.874.546 đồng. trong đó: gốc 31.161.568.000 đồng, lãi trong hạn 12.518.076.849 đồng; lãi quá hạn 51.394.229.697 đồng.

Căn cứ các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ, Hợp đồng thế chấp, Hợp đồng mua bán nợ VAMC và E, yêu cầu:

  1. Công ty cổ phần T4 (nay là Công ty cổ phần T5 – Cần Thơ) thanh toán cho E tổng số tiền nợ gốc và lãi phát sinh tạm tính từ ngày 19/6/2023 là 95.073.874.546 đồng. Trong đó: gốc 31.161.568.000 đồng, lãi trong hạn 12.518.076.849 đồng; lãi quá hạn 51.394.229.697 đồng. Yêu cầu trả một lần ngay khi Bản án có hiệu lực pháp luật, tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 20/6/2023 cho đến khi Công ty cổ phần T4 (nay là Công ty cổ phần T5) thanh toán xong nợ cho E theo mức lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết.
  2. Trường hợp Công ty cổ phần T4 (nay là Công ty cổ phần T5) không trả nợ hoặc trả nợ không đủ, thì E được quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Các tài sản thế chấp gồm: Viện nghiên cứu thủy sản B, tại địa chỉ: Lô B, KCN T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ do Công ty cổ phần T4 sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT00034 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 21/10/2011 và Một dây chuyền hoàn chỉnh tẩm bột và chiên tại địa chỉ: Lô B KCN T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ; do Công ty cổ phần T4 sở hữu theo Tờ khai hàng hóa nhập khẩu số 3521/NK/NĐT ngày 15/09/2010.
  1. Trường hợp phát mãi tài sản bảo đảm không thu hồi đủ số nợ thì Công ty cổ phần T4 (nay là Công ty cổ phần T5) có nghĩa vụ thanh toán cho E cho đến khi trả xong nợ.

* Tại Bản tự khai ngày 19/6/2023, bị đơn Công ty cổ phần T4 – Nay là Công ty cổ phần T5 (có ông Lê H đại diện theo ủy quyền) trình bày:

Công ty cổ phần T4 – địa chỉ tại: Lô B, KCN T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ, trước đây, do bà Phạm Thị Diệu H1 làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc công ty. Sau một thời gian hoạt động, do không làm tốt việc quản lý kinh doanh, vi phạm các quy định về quản lý kinh tế của bộ máy lãnh đạo, Công ty cổ phần T4 rơi vào hoàn cảnh khó khăn, mất khả năng trả nợ, đứng trước nguy cơ phá sản.

Tháng 02/2012, bà Phạm Thị Diệu H1 bỏ ra nước ngoài với lý do chữa bệnh, điều hành Doanh nghiệp thời điểm này là ông Trần Văn T3, chồng bà Diệu H1. Từ thời điểm tháng 02 đến tháng 08/2012, Công ty rơi vào tình trạng dừng hoạt động, toàn bộ HĐQT của Công ty không một ai có mặt để giải quyết các tranh chấp và xử lý tình trạng lộn xộn của Công ty tại thời điểm đó.

Công ty phải thực hiện tái cấu trúc toàn diện, thay đổi toàn bộ cơ cấu của các Cơ quan quản lý, điều hành. Những cán bộ quản lý điều hành cũ không có mặt và không bàn giao tài sản, tài liệu, hồ sơ cho Công ty. Ngày 05/12/2015, Công ty cổ phần T4 đổi tên thành Công ty cổ phần T5 – Cần Thơ.

Chính vì việc quản lý yếu kém của bà Diệu H1 và bộ máy lãnh đạo cũ thiếu thiện chí của bà H1 cũng như của đội ngũ cán bộ quản lý, quản trị điều hành cũ trong quá trình tái cấu trúc Doanh nghiệp do đó cho đến nay Hacaseafood không thể tìm được các chứng từ liên quan đến khoản vay của Ngân hàng X – Chi nhánh S (Sau đây gọi là E) nói riêng và của các khoản vay khác nói chung. Qua thu thập hồ sơ từ E và các cơ quan Tòa án giải quyết tranh chấp, H2 đã nhận được một số chứng từ liên quan đến hai khoản vay mà phía Nguyên đơn đang khởi kiện. Qua xem xét các tài liệu này, H2 phát hiện thấy rất nhiều sai phạm của phía Nguyên đơn trong quá trình cho vay dẫn đến bà Diệu H1 có cơ hội để lạm dụng vốn vay, lạm dụng tài sản của Công ty dẫn đến gây thiệt hại cho Công ty T4. Cụ thể chúng tôi phân tích như dưới đây:

-Đối với khoản vay 25 tỷ đồng theo hợp đồng tín dụng số 1401-LAV-201006468 ngày 23/08/2010:

Trong Hợp đồng cấp tín dụng số 1401-LAV-201006468 ngày 23/08/2010 do bà Phạm Thị Diệu H1 ký. Việc ký kết của bà H1 trong Hợp đồng tín dụng bỏ

trống ngày tháng năm của Biên bản họp HĐQT. Mục đích vay vốn ghi trong Hợp đồng tín dụng là “Đầu tư xây dựng trung tâm sản xuất giống cá tra” (Khoản 1.2 Điều 1 HĐTD). Trong khế ước nhận nợ cùng ngày cũng phản ánh mục đích vay là để “Đầu tư xây dựng trung tâm sản xuất giống cá tra”. Do trong Hợp đồng tín dụng không nói rõ bà H1 được vay vốn theo chấp thuận nào của Hội đồng quản trị nên trong quá trình xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm Công ty T4 đã yêu cầu phía Nguyên đơn cung cấp Biên bản Họp hội đồng quản trị nào thể hiện sự đồng ý của Hội đồng quản trị trong việc vay vốn để đầu tư trung tâm sản xuất giống cá tra. Tại phiên tòa sơ thẩm lần 1, phía Nguyên đơn đưa ra các viện dẫn đến một Biên bản họp HĐQT ngày 16/08/2010, tuy nhiên biên bản này đều thể hiện nội dung là vay vốn Ngân hàng E để nhằm mục đích: “Xây dựng cơ bản công trình Viện nghiên cứu thủy sản B”. Nếu so với mục đích vay vốn phản ánh tại Hợp đồng tín dụng thì các Biên bản này không phải là Biên bản phù hợp với mục đích cho vay được phản ánh trong Hợp đồng tín dụng số 1401-LAV-201006468. Việc làm này vi phạm quy định của Điều lệ Công ty. Cụ thể, theo quy định tại Điểm e, Khoản 4 Điều 25 Điều lệ Công ty cổ phần T4 (được thông qua và ban hành ngày 29/06/2008) thì “Việc vay nợ và việc thực hiện các khoản thế chấp, bảo đảm, bảo lãnh và bồi thường của Công ty” phải được Hội đồng quản trị phê chuẩn.

Công ty T4 khẳng định, dự án Trung tâm sản xuất giống cá tra là dự án độc lập với dự án xây dựng Viện nghiên cứu thủy sản. Tuy nhiên, dự án Trung tâm sản xuất giống cá tra không được thực hiện và cho đến nay, không có Trung tâm sản xuất giống cá tra tồn tại tại Công ty.

Căn cứ Khoản 4 Điều 7 Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng, ban hành kèm theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định về Điều kiện vay vốn như sau: “Tổ chức tín dụng xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau:

  1. Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật”

Theo các nội dung trên, Dự án Trung tâm sản xuất cá tra không hề được thực hiện và thực tế cho đến nay không có công trình nào thuộc Dự án này tồn tại trong Công ty. Như vậy, E đã tài trợ cho vay khi không thỏa mãn điều kiện cho vay khách hàng không đủ điều kiện vay vốn là vi phạm quy định của pháp luật về cho vay.

Từ các căn cứ trên có thể thấy: Việc bỏ trống biên bản ghi nhận việc phê duyệt được phép vay vốn và việc thực hiện cho vay của E trước đây là không phù hợp với quy định cho vay, không thực hiện thẩm định khoản vay và khoản “nhắm mắt” để giải ngân vốn vay cho một dự án không được thực hiện và không hề được Hội đồng quản trị phê chuẩn thông qua.

- Đối với khoản vay 548,800USD theo Hợp đồng tín dụng số 1401-LAV-201006507:

Theo Hợp đồng tín dụng thì đây là khoản vay để mua máy móc thiết bị (dây chuyền tẩm bột, chiên), trong Hợp đồng tín dụng số 1401-LAV-201006507 ngày 25/08/2010 có phản ánh đến mục đích vay là để “Thanh toán L/C số 1401ILSEIB100058 để nhập khẩu máy móc thiết bị”, người ký kết trên Hợp đồng là bà Phạm Thị Diệu H1 và việc ký kết này căn cứ trên Biên bản họp Hội đồng quản trị ngày 20/12/2009. Tại Biên bản họp HĐQT ngày 20/12/2009, HĐQT chỉ đồng ý để bà Diệu H1 ký kết các văn kiện tín dụng với E chứ không phê duyệt ký kết các nội dung khác.

Ngày 15/12/2010, E ký kết Hợp đồng thế chấp số 346/EIB-TD/BĐTC/2010 có công chứng tại Phòng công chứng số A thành phố Hồ Chí Minh với ông Võ Thành K (không ghi chức vụ) về việc thế chấp toàn bộ dây chuyền hoàn chỉnh tẩm bột và chiên, theo nội dung của Hợp đồng thế chấp này thì ông K được đại diện cho Công ty T4 theo Biên bản HĐQT ngày 20/12/2009 (trong mô tả và Bên B tại HĐTC), qua xem xét nội dung Biên bản này Công ty T4 chỉ thấy biên bản phản ánh việc ủy quyền cho bà Diệu H1 được ký kết với E, cho đến nay chúng tôi không rõ ông K là ai mà có thể đại diện cho Công ty tại thời điểm đó để thế chấp một dây chuyền hoàn chỉnh tẩm bột chiên. Ngoài ra tại Hợp đồng thế chấp này có nói rõ là để bảo đảm cho Hợp đồng số 1401-LAV-201006057 không phải là Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên là 6507 do đó chúng tôi khẳng định Hợp đồng thế chấp của ông K là không hợp pháp, ông K không phải là người được ủy quyền để ký kết Hợp đồng thế chấp, việc thế chấp này không bảo đảm quyền lợi cho Công ty.

Tại Điều 3 của Hợp đồng thế chấp có ghi nhận nội dung:

Để phục vụ quá trình sản xuất bình thường, 2 bên thống nhất: tài sản bảo đảm được giao cho bên B giữ, tại địa chỉ: Lô B KCN T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

Tuy nhiên tại Lô B KCN T không có bất cứ dây chuyền nào là dây chuyền tẩm bột và chiên. Bản thân Công ty T4 chưa từng vận hành bất cứ dây chuyền tẩm bột và chiên nào cả.

Như vậy, E đã tài trợ để mua dây chuyền tẩm bột chiên nhưng thực tế dây chuyền không hề tồn tại. Vấn đề này cũng như sai phạm nêu trên tại khoản vay 25 tỷ đồng. Ngoài ra Hợp đồng thế chấp được ký kết công chứng nhưng lại ký với một cá nhân không rõ là ai và không đủ thẩm quyền đại diện cho Công ty T4. Như vậy có thể nhận thấy và càng khẳng định rõ ràng hơn, E đã không thẩm định khoản vay, không thẩm định tài sản, vi phạm nghiêm trọng quy định cho vay, gây thiệt hại cho Công ty T4.

Từ các phân tích trên, Công ty cổ phần T4 kính đề nghị Quý Tòa như sau:

  • - Cho triệu tập và đưa bà Phạm Thị Diệu H1 vào làm người liên quan để giải thích đầy đủ các vấn đề sử dụng vốn vay và tài sản hình thành từ vốn vay.
  • - Tuyên vô hiệu các Hợp đồng vay do vi phạm quy định về cho vay.
  • - Theo đó tuyên vô hiệu các Hợp đồng bảo đảm cho các khoản vay không đúng quy định của pháp luật nêu trên.

Tại phiên tòa sơ thẩm;

- Nguyên đơn - bà Trần Lê Phương T1 đại diện theo ủy quyền trình bày giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ngân hàng E đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu như sau: Yêu cầu Công ty cổ phần T4 (nay là Công ty cổ phần T5) thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền nợ gốc và lãi phát sinh tính từ ngày 19/9/2023 là 78.982.050.069 đồng và 740.269,69 USD. Trong đó: Nợ gốc 23.950.000.000 đồng và 304.800 USD; Lãi trong hạn 12.037.590.279 đồng và 20.307,97 USD; Lãi quá hạn 42.994.459.790 đồng và 415.161,72 USD. Tỷ giá quy đổi USD/VNĐ: 24.530 theo Bảng tỷ giá số 26 ngày 19/9/2023.

Yêu cầu trả tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 20/9/2023 cho đến khi Công ty cổ phần T4 (nay là Công ty cổ phần T5) thanh toán xong nợ cho E theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng, hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ đã ký kết. Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực.

Trường hợp Công ty cổ phần T4 (nay là Công ty cổ phần T5) không trả nợ hoặc trả nợ không đủ, thì E được quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để giải quyết thu hồi nợ gồm:

  • + Viện nghiên cứu thủy sản B, tại địa chỉ: Lô B, KCN T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ do Công ty cổ phần T4 sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền

với đất số CT00034 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 21/10/2011 (Hợp đồng thế chấp số 339/EIB/SG-TD/TSTS/2011, được công chứng tại Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ ngày 14/12/2011; Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C ngày 19/12/2011).

+ Một dây chuyền hoàn chỉnh tẩm bột và chiên tại địa chỉ: Lô B KCN T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ do Công ty cổ phần T4 sở hữu theo Tờ khai hàng hóa nhập khẩu số 3521/NK/NĐT ngày 15/09/2010; Phụ lục tờ khai hàng hóa nhập khẩu ngày 14/09/2010. (Hợp đồng thế chấp số 346/EIB/SG-TD/TCTS/2011 được công chứng tại Phòng C ngày 15/12/2010; Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/12/2010).

Nếu phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thu hồi nợ thì Công ty cổ phần T4 (nay là Công ty cổ phần T5) có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi trả xong nợ.

- Bị đơn vắng mặt, nên không ghi nhận ý kiến.

Tại bản án sơ thẩm số 06/2023/KDTM.ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn có trách nhiệm trả cho Nguyên đơn tổng số tiền 78.982.050.069 đồng (Bảy mươi tám tỷ chín trăm tám mươi hai triệu không trăm năm mươi ngàn không trăm sáu mươi chín đồng) và 740.269,69 USD (Bảy trăm bốn mươi ngàn hai trăm sáu mươi chín đô la Mỹ và sáu mươi chín xu). Trong đó: Nợ gốc 23.950.000.000 đồng và 304.800 USD; Lãi trong hạn 12.037.590.279 đồng và 20.307,97 USD; Lãi quá hạn 42.994.459.790 đồng và 415.161,72 USD. Tỷ giá quy đổi USD/VNĐ: 24.530 đồng theo Bảng tỷ giá số 26 ngày 19/9/2023.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (20/9/2023), Bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Trường hợp Bị đơn không trả nợ hoặc trả nợ không đủ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, gồm:

  • + Viện nghiên cứu thủy sản B, địa chỉ Lô B KCN T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ do bị đơn sở hữu theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 726176, số vào sổ cấp GCN: CT00034 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 21/10/2011.

(Theo Hợp đồng thế chấp QSD đất, tài sản gắn liền với đất số 339/EIB/SG -TD/TCTS/201-14/12/2011. Đăng ký thế chấp bằng tài sản gắn liền với đất tại Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C vào ngày 19/12/2011).

  • + 01 (một) Dây chuyền hoàn chỉnh tẩm bột và chiên tại địa chỉ: Lô B khu công nghiệp T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ do bị đơn sở hữu theo Tờ khai hàng hóa nhập khẩu số 3521/NK/NĐT ngày 15/09/2010; Phụ lục tờ khai hàng hóa nhập khẩu ngày 14/09/2010. (Theo Hợp đồng thế chấp số 346/EIB/SG-TD/TCTS/2011 ngày 15/12/2010. Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/12/2010).

Nếu phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thu hồi nợ thì Bị đơn có trách nhiệm tiếp tục trả đầy đủ nợ gốc và lãi tiền vay cho nguyên đơn để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo theo qui định.

Ngày 24/10/2023 bị đơn Công ty T5 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, cho rằng bản án sơ thẩm không xem xét những tình tiết, chứng cứ cụ thể về việc hình thành tài sản cho vay, đối chiếu công nợ, cách tính nợ, cách tính lãi làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty.

Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vắng mặt giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm của Kiểm sát viên:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn kháng cáo có yêu cầu xét xử vắng mặt, nên tiến hành xét xử vắng mặt là đúng.
  • - Về nội dung: Đối với ông Võ Thành K Tòa án tiến hành đầy đủ thủ tục theo qui định.

Đối với Hợp đồng tín và Hợp đồng thế chấp số 339/EIB/SG-TD/TSTS/2011, được công chứng tại Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ ngày 14/12/2011; đăng ký giao dịch bảo đảm tại Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C ngày 19/12/2011. Bảo đảm cho khoản vay là 25.000.000.000 đồng, được công chứng chứng thực theo đúng quy định pháp luật, Viện nghiên cứu hiện nay do bị đơn quản lý sử dụng. Hợp đồng thế chấp số 346/EIB/SG-TD/TCTS/2011 được công chứng tại Phòng C ngày 15/12/2010; đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản thành phố Hồ

Chí Minh ngày 17/12/2010. Xét người ký Hợp đồng thế chấp là ông Võ Thành K bảo đảm khoản vay 548.800 USD do người được công ty T4 ủy quyền là ông K là phù hợp quy định. Tuy nhiên việc ký kết Hợp đồng bảo đảm phía Công ty B1 ký cho đến thời điểm Ngân hàng khởi kiện tranh chấp Hợp đồng tín dụng thì Bị đơn nại ra lý do ông K ký không đúng thẩm quyền và yêu cầu hủy là không có cơ sở chấp nhận.

Từ các cơ sở tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả số tiền 78.982.050.069 đồng và 740.269,69 USD (trong nó nợ gốc: 23.950.000.000 đồng, 304.800 USD). Trường hợp Công ty cổ phần T5 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ thì E được quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án phát mãi các tài sản thế chấp để giải quyết thu hồi nợ. Trường hợp phát mãi tài sản bảo đảm không thu hồi đủ số nợ thì Công ty T5 có nghĩa vụ thanh toán cho E cho đến khi trả xong nợ là có căn cứ.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, tại phiên tòa phúc thẩm Bị đơn không cung cấp thêm chứng cứ mới nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, bản án sơ thẩm xử là có căn cứ, nên kháng cáo của Bị đơn không có cơ sở để xem xét. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết:

Ngày 18/11/2013, Ngân hàng TMCP X (gọi tắt là E) đã bán toàn bộ khoản nợ của bị đơn Công ty cổ phần T4 (nay là Công ty cổ phần T5 – Cần Thơ) cho Công ty TNHH MTV Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam (gọi tắt là VAMC) theo Hợp đồng mua, bán nợ số 01/VAMC-EXIMBANK ngày 18/11/2013, bao gồm toàn bộ các khoản nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh. Vì vậy, kể từ ngày 18/11/2013, Công ty TNHH MTV Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) trở thành chủ nợ khoản nợ vay của bị đơn. Ngày 17/3/2014, VAMC và E đã ký Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng ủy quyền số 01/VAMC-EXIMBANK/01, VAMC ủy quyền cho E khởi kiện, tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp, làm việc với Cơ quan Thi hành án, các cơ quan tổ chức khác để giải quyết vụ việc khởi kiện đòi nợ khách hàng vay và các bên có liên quan.

Ngày 17/9/2018, E ký Hợp đồng ủy quyền số 02/2018/HĐUQ/EIB-AMC và đến ngày 03/6/2019, E tiếp tục ký Hợp đồng ủy quyền số

03/2019/HĐUQ/EIB-AMC ủy quyền cho Công ty TNHH MTV Q1 và khai thác tài sản – Ngân hàng TMCP X (gọi tắt là E) (Chủ sở hữu của E là Ngân hàng TMCP X) để xử lý, thu hồi nợ, xử lý các vụ kiện, tham gia với tư cách là Nguyên đơn, tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác về những vấn đề phát sinh trong quá trình xử lý, thu hồi nợ.

Ngày 12/6/2019, Công ty TNHH MTV Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã bán toàn bộ khoản nợ của bị đơn cho Ngân hàng TMCP X (E) theo Hợp đồng mua bán nợ số 1414/2019/BN.VAMC-EXIMBANK ngày 12/6/2019, bao gồm toàn bộ các khoản nợ gốc, nợ lãi, lãi phạt và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh cho đến ngày có hiệu lực của hợp đồng này.

Theo Nghị quyết của Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP X số 53/2023/EIB/NQ-HĐQT ngày 28/02/2023, E tiếp tục ủy quyền cho Công ty TNHH MTV Q1 và khai thác tài sản – Ngân hàng TMCP X (E) để xử lý, thu hồi nợ, xử lý các vụ kiện, tham gia với tư cách là Nguyên đơn, tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác về những vấn đề phát sinh trong quá trình xử lý, thu hồi nợ là phù hợp.

Tuy nhiên, việc mua bán nợ vào ngày 12/6/2019 giữa Công ty TNHH MTV Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam và Ngân hàng TMCP X là phù hợp với quy định tại Điều 12 Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam. Do đó, kể từ thời điểm này Ngân hàng TMCP X vẫn là chủ nợ đối với Bị đơn Công ty cổ phần T4 (nay là Công ty cổ phần T5 – Cần Thơ) và là Nguyên đơn trong vụ án.

Theo đơn khởi kiện và chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện, Nguyên đơn và Bị đơn có giao kết Hợp đồng tín dụng, sau đó phát sinh tranh chấp nên nguyên đơn khởi kiện. Do đó, quan hệ pháp luật dân sự được xác định là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự do cấp sơ thẩm xác định là đúng qui định.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Võ Thành K đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không rõ lý do; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phòng C thành phố Hồ Chí Minh có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng câp sơ thẩm tiến

hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp. Bị đơn kháng cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên cấp phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt theo qui định.

[3] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP X (E) yêu cầu bị đơn Công ty cổ phần T4 – Nay là Công ty cổ phần T5 – Cần Thơ trả tiền nợ vay căn cứ: Hợp đồng tín dụng số 1401-LAV-201006468 ngày 23/8/2010, Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 1401-LDS-201007902 ngày 23/8/2010, bị đơn đã ký nhận nợ nguyên đơn với số tiền 25.000.000.000 đồng (Hai mươi lăm tỷ đồng); Hợp đồng tín dụng số 1401-LAV-201006507 ngày 25/8/2010, Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 1401-LDS-201007977 ngày 25/8/2010, bị đơn đã ký nhận nợ nguyên đơn với số tiền vay: 548.800 USD (Năm trăm bốn mươi tám ngàn tám trăm Đô la Mỹ). Thực hiện các hợp đồng, nguyên đơn đã giải ngân và bị đơn đã nhận đủ số tiền theo các Phiếu hạch toán và Giấy báo các ngày 23/8/2010 và 25/8/2010. Như vậy, đây là cơ sở khẳng định giữa nguyên đơn và bị đơn có thiết lập giao dịch dân sự về Hợp đồng tín dụng là sự thật.

[3.1] Về Hợp đồng tín dụng:

Theo các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp nhằm chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ là hợp pháp: Nguyên đơn và bị đơn có ký kết các hợp đồng tín dụng:

Hợp đồng tín dụng số 1401-LAV-201006468 ngày 23/8/2010, Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 1401-LDS-201007902 ngày 23/8/2010 với số tiền vay: 25.000.000.000 đồng, mục đích vay: đầu tư xây dựng trung tâm sản xuất giống cá tra, thời hạn vay 84 tháng; lãi suất cho vay 15%/năm, lãi suất quá hạn 150%/lãi suất cho vay.

Hợp đồng tín dụng số 1401-LAV-201006507 ngày 25/8/2010, Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 1401-LDS-201007977 ngày 25/8/2010 với số tiền vay: 548.800 USD; Mục đích vay là thanh toán L/C số 1401ILSEIB100058 để nhập khẩu máy móc, thời hạn vay 36 tháng (từ ngày 25/10/2010 đến ngày 25/8/2013), lãi suất cho vay: 6,6%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay.

Quá trình giao dịch, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và khoản nợ đã quá hạn từ ngày 25/12/2011. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 19/9/2023 bị đơn còn nợ tổng số tiền là 78.982.050.069 đồng và 740.269,69 USD. Trong đó: Nợ

gốc 23.950.000.000 đồng và 304.800 USD; Lãi trong hạn 12.037.590.279 đồng và 20.307,97 USD; Lãi quá hạn 42.994.459.790 đồng và 415.161,72 USD.

Trên cơ sở đó, Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả tổng số tiền trên và tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 20/9/2023 cho đến khi bị đơn thanh toán xong nợ cho nguyên đơn theo mức lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ đã ký kết. Xét thấy:

Hợp đồng tín dụng số 278/17/HĐTC-BĐS/0403-3586 ngày 18/5/2017, về nội dung và hình thức của hợp đồng thỏa mãn các điều kiện được quy định tại Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005 nên các bên có nghĩa vụ phải thực hiện. Ngân hàng TMCP X là tổ chức tín dụng có chức năng cho vay và được Ngân hàng N1 xét duyệt. Theo đó, việc thỏa thuận lãi suất giữa nguyên đơn và bị đơn là không trái quy định pháp luật.

Việc ký kết các Hợp đồng tín dụng, Bị đơn đã thống nhất ủy quyền cho bà Phạm Thị Diệu H1 đại diện cho Bị đơn thực hiện các giao dịch thể hiện tại các Biên bản họp Hội đồng thành viên Công ty cổ phần T4 ngày 20/12/2009 và Biên bản họp Hội đồng quản trị Công ty cổ phần T4 ngày 16/8/2010, ngày 20/12/2010. Mục đích các buổi họp: Về việc đề nghị Ngân hàng TMCP X (E) – Chi nhánh S (E) cấp khoản vay trung hạn mua máy móc thiết bị, cấp khoản vay trung hạn thanh toán tiền xây dựng cơ bản công trình Viện Nghiên cứu Thủy sản B và cấp tín dụng. Các thành viên của Công ty cổ phần T4 đều thống nhất 100%: Đồng ý đề nghị E cấp tín dụng trung hạn số tiền 25.000.000.000 đồng và 548,800 USD; Đồng ý ủy quyền cho bà H1 ký tên trên các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp, khế ước nhận nợ, biên bản thỏa thuận hoặc văn bản liên quan đến việc cấp hạn mức tín dụng của E. Do đó, bà Phạm Thị Diệu H1 là người đại diện theo ủy quyền hợp pháp cho pháp nhân là Công ty cổ phần T4 (nay là Công ty cổ phần T5) tham gia giao dịch với Ngân hàng TMCP X nên không đưa bà H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ trong vụ án là phù hợp.

Như vậy, Hợp đồng tín dụng giữa các bên đã được giao kết tự nguyện, phù hợp quy định tại các Điều 90, 91, 94 và 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Bị đơn không thực hiện theo đúng thỏa thuận, vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả nợ gốc và lãi cho Nguyên đơn là phù hợp. Bị đơn đề nghị tuyên vô hiệu các Hợp đồng vay do vi phạm quy định về cho vay là không có cơ sở.

[3.2] Về Hợp đồng thế chấp tài sản:

Theo Nguyên đơn, để đảm bảo cho khoản nợ vay, Nguyên đơn và Bị đơn đã ký kết các Hợp đồng thế chấp và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền. Xét thấy:

  • - Hợp đồng thế chấp QSD đất, tài sản gắn liền với đất số 339/EIB/SG-TD/TCTS/2011 ngày 14/12/2011 được công chứng tại Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ ngày 14/12/2011. Tài sản thế chấp là tài sản gắn liền với đất: Viện nghiên cứu thủy sản B, địa chỉ Lô B KCN T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ do bị đơn sở hữu theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 726176, số vào sổ cấp GCN: CT00034 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 21/10/2011. Đã được đăng ký thế chấp bằng tài sản gắn liền với đất tại Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C vào ngày 19/12/2011 để bảo đảm cho khoản vay là 25.000.000.000 đồng.

Xét Viện nghiên cứu thủy sản B hiện nay do Bị đơn quản lý sử dụng. Theo hợp đồng, bà Phạm Thị Diệu H1 là người đại diện theo ủy quyền hợp pháp cho pháp nhân là Công ty cổ phần T4 (nay là Công ty cổ phần T5 – Cần Thơ) để ký kết Hợp đồng thế chấp QSD đất, tài sản gắn liền với đất nêu trên và đã được công chứng chứng thực theo đúng quy định pháp luật.

  • - Hợp đồng thế chấp tài sản (là Máy móc thiết bị - khách hàng giữ tài sản) số 346/EIB/SG-TD/TCTS/2010 ngày 15/12/2010 được công chứng tại Phòng C thành phố Hồ Chí Minh ngày 15/12/2010; Tài sản thế chấp là 01 (một) Dây chuyền hoàn chỉnh tẩm bột và chiên do bị đơn sở hữu theo Tờ khai hàng hóa nhập khẩu số 3521/NK/NĐT ngày 15/9/2010; Phụ lục tờ khai hàng hóa nhập khẩu ngày 14/9/2010. Đã được đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tài sản này tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/12/2010 để bảo đảm cho khoản vay là 548.800 USD. Để phục vụ quá trình sản xuất, hai bên thống nhất: tài sản bảo đảm được giao cho Công ty cổ phần T4 giữ, tại địa chỉ: Lô B KCN T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

Đại diện ủy quyền của Nguyên đơn cho rằng, Hợp đồng thế chấp số 346/EIB/SG-TD/TCTS/2011 ngày 15/12/2010 đã được công chứng tại Phòng C thành phố Hồ Chí Minh, ông Võ Thành K đại diện theo ủy quyền cho Công ty T4 để yêu cầu công chứng và ký kết Hợp đồng thế chấp đã được công chứng viên kiểm tra đầy đủ hồ sơ trong đó có chứng minh nhân dân của ông Võ Thành K, Biên bản họp Hội đồng quản trị có nội dung Công ty T4 thống nhất để ông K đại diện Công ty T4 ký kết Hợp đồng thế chấp đối với tài sản là dây chuyền hoàn chỉnh tẩm bột và chiên.

Bị đơn cho rằng, Nguyên đơn có nhiều sai phạm tại các khoản vay, không thẩm định khoản vay, không thẩm định tài sản, vi phạm nghiêm trọng quy định cho vay, gây thiệt hại cho bị đơn. Bị đơn đề nghị tuyên vô hiệu các Hợp đồng bảo đảm cho các khoản vay không đúng quy định của pháp luật.

Xét việc thế chấp tài sản nêu trên phù hợp với mục đích vay của Hợp đồng tín dụng số 1401-LAV-201006507 ngày 25/8/2010, Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 1401-LDS-201007977 ngày 25/8/2010 là thanh toán L/C số 1401ILSEIB100058 để nhập khẩu máy móc thiết bị đúng như trong Giấy đề nghị vay vốn ngày 29/3/2010 và phương án kinh doanh ngày 29/3/2010 của Công ty cổ phần T4.

Theo Hợp đồng, ông Võ Thành K là người đại diện cho Công ty cổ phần T4 để yêu cầu công chứng và ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản là dây chuyền hoàn chỉnh tẩm bột và chiên. Đối với ông Võ Thành K, Tòa án đã tiến hành ủy thác thu thập chứng cứ, thực hiện việc Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để ông K biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật nhưng ông K vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do đó, cần xem xét đánh giá toàn diện tài liệu chứng cứ theo quy định pháp luật.

Theo Công văn số 05/CC1 ngày 07/01/2021 V/v ý kiến liên quan đến vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng của Phòng Công chứng số 01 thành phố H có nội dung: Căn cứ vào các giấy tờ do các bên xuất trình, công chứng viên Trương Tấn P của Phòng C xét thấy đầy đủ, đã thực hiện việc chứng nhận Hợp đồng nêu trên theo quy định. Tại thời điểm công chứng không nhận được bất kỳ tranh chấp hay khiếu nại nào liên quan đến tài sản thế chấp. Sau đó có cung cấp toàn bộ bản sao hồ sơ yêu cầu công chứng Hợp đồng thế chấp tài sản số 038516, quyển số 12/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/12/2010 do Phòng công chứng số 01 chứng nhận (kèm theo Công văn số 397/CC1 ngày 06/12/2021 V/v cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án). Cụ thể hồ sơ yêu cầu công chứng do các bên xuất trình gồm có: Phiếu yêu cầu công chứng; Giấy tờ tùy thân: Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, Mã số doanh nghiệp: 1800604806 do Sở kế hoạch và Đầu tư thành phố C cấp, đăng ký lần đầu ngày 18/4/2007, đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 14/10/2010; Bản sao CMND ông Võ Thành K (người đại diện bên thế chấp); Giấy tờ liên quan đến tài sản giao dịch: Tờ khai hàng hóa nhập khẩu số 3521/NK-NĐT ngày 15/9/2010 và phụ lục tờ khai hàng hóa nhập khẩu ngày 14/9/2010 và các giấy tờ khác liên quan đến tài sản thế chấp; Giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch: Biên bản định giá tài sản thế chấp ngày 25/8/2010; Hợp đồng tín dụng số 1401-LAV-201006507 ngày

25/8/2010 ký giữa Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh S với bên vay là Công ty cổ phần T4; Biên bản họp Hội đồng quản trị Công ty và các giấy tờ khác có liên quan theo quy định của pháp luật.

Phòng C thành phố Hồ Chí Minh cung cấp tài liệu trong đó có Biên bản họp Hội đồng quản trị Công ty cổ phần T4 ngày 20/12/2010 có nội dung: Đồng ý đề nghị E cấp tín dụng với số tiền là 548,800.00 USD để dùng vào mục đích thanh toán tiền nhập hàng 01 dây chuyền hoàn chỉnh tẩm bột và chiên; Đồng ý ủy quyền cho bà Phạm Thị Diệu H1 chức vụ Tổng giám đốc đại diện Công ty CP T4 ký tên trên các Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, Biên bản thỏa thuận hoặc văn bản liên quan đến việc cấp hạn mức tín dụng của E; Đồng ý ủy quyền cho ông Võ Thành K được đại diện Công ty CP T4 ký tên trên Hợp đồng thế chấp, biên bản định giá và các giấy tờ khác liên quan đến công chứng tài sản là các chiếc xe trên tại phòng công chứng Nhà nước.

Đồng thời tại văn bản ngày 27/7/2022 V/v ý kiến liên quan đến vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng của Công chứng viên Trương Tấn P có ý kiến xác định: Ngày 15/12/2010 Phòng C có tiếp nhận yêu cầu công chứng Hợp đồng thế chấp tài sản được giao kết giữa bên thế chấp là Công ty cổ phần T4, bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP X (E) – Chi nhánh S... Căn cứ vào các giấy tờ do các bên xuất trình, ông là công chứng viên Trương Tấn P của Phòng C trước đây xét thấy đầy đủ, đã thực hiện việc chứng nhận Hợp đồng nêu trên theo đúng trình tự và thủ tục pháp luật quy định. Tại thời điểm công chứng, Phòng C không nhận được bất kỳ tranh chấp hay khiếu nại nào liên quan đến tài sản thế chấp.

Biên bản họp Hội đồng quản trị Công ty cổ phần T4 thống nhất đồng ý ủy quyền cho ông Võ Thành K được đại diện bị đơn ký tên trên Hợp đồng thế chấp cụ thể là Hợp đồng thế chấp (là Máy móc thiết bị - khách hàng giữ tài sản) số 346/EIB/SG-TD/TCTS/2011 ngày 15/12/2010. Phòng C thành phố Hồ Chí Minh xác định công chứng viên đã kiểm tra đầy đủ hồ sơ và thực hiện việc chứng nhận Hợp đồng đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định. Tại thời điểm công chứng, không nhận được bất kỳ tranh chấp hay khiếu nại liên quan đến tài sản thế chấp. Do đó, căn cứ các tài liệu chứng cứ nêu trên có cơ sở xác định ông K đủ điều kiện là người đại diện ủy quyền hợp pháp cho bị đơn ký Hợp đồng thế chấp tài sản của bị đơn là phù hợp. Đồng thời, Bị đơn đã có văn bản yêu cầu ngày 29/8/2013 đề nghị Nguyên đơn khoanh nợ và cũng đã xác nhận vào Biên bản kiểm tra sử dụng nguồn vốn vay ngày 15/01/2011, điều này cho thấy Bị đơn đã thừa nhận nợ nên phải có trách nhiệm trả nợ cho Nguyên đơn.

Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 17/04/2023 Nguyên đơn và Bị đơn đều không xác định được tài sản thế chấp. Do đó, căn cứ vào Hợp đồng thế chấp tài sản (là Máy móc thiết bị - khách hàng giữ tài sản) số 346/EIB/SG-TD/TCTS/2010 ngày 15/12/2010; Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tài sản này tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/12/2010. Tài sản bảo đảm thống nhất được giao cho Công ty cổ phần T4 giữ, tại địa chỉ: Lô B KCN T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Đại diện Nguyên đơn cho rằng, tài sản đảm bảo vẫn do Bị đơn quản lý và yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là phù hợp. Do vậy Bị đơn đề nghị tuyên vô hiệu các Hợp đồng bảo đảm cho các khoản vay là không có cơ sở chấp nhận.

Trên cơ sở đó, Nguyên đơn được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp Bị đơn không trả nợ hoặc trả nợ không đủ. Tài sản thế chấp gồm:

  • + Viện nghiên cứu thủy sản B, địa chỉ Lô B KCN T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ do bị đơn sở hữu theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 726176, số vào sổ cấp GCN: CT00034 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 21/10/2011. Đăng ký thế chấp bằng tài sản gắn liền với đất tại Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C vào ngày 19/12/2011.
  • + 01 (một) Dây chuyền hoàn chỉnh tẩm bột và chiên tại địa chỉ: Lô B KCN T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ do bị đơn sở hữu theo Tờ khai hàng hóa nhập khẩu số 3521/NK/NĐT ngày 15/09/2010; Phụ lục tờ khai hàng hóa nhập khẩu ngày 14/09/2010. Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/12/2010.

Trường hợp tài sản thế chấp không đủ tất toán nợ vay thì Bị đơn có trách nhiệm tiếp tục trả đầy đủ nợ gốc và lãi tiền vay cho nguyên đơn để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán.

Từ những phân tích trên, cho thấy lời trình bày của Nguyên đơn phù hợp với nội dung chứng cứ phân tích, điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế giao dịch. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận toàn bộ.

[4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn yêu cầu xem xét những tình tiết, chứng cứ cụ thể về việc hình thành tài sản cho vay, đối chiếu công nợ, cách tính nợ, cách tính lãi làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty.

Như trên nhận định và tại giai đoạn phúc thẩm Bị đơn kháng cáo về số nợ và xem xét cách tính lãi của Nguyên đơn, việc tính nợ và số lãi của Nguyên đơn

dựa thể cơ sở của Hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên, thấy rằng Bị đơn kháng cáo không cung cấp thêm chứng cứ mới nào khác để chứng minh số nợ và cách tính lãi của Nguyên đơn là không phù hợp, do vậy không có cơ sở để xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Bản án sơ thẩm xét xử đánh giá đầy đủ các tình tiết chứng cứ có liên quan đến nội dung tranh chấp và quyết định Bản án là có căn cứ được giữ nguyên. Vì vậy không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị đơn.

[5] Về chi phí thẩm định:

Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tổng số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), đã thực hiện xong. Bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định pháp luật, Bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Nguyên đơn số tiền này.

[6] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật (Tại thời điểm xét xử ngày 19/9/2023, tỷ giá quy đổi USD/VNĐ là 24.530 đồng/USD theo Bảng tỷ giá số 26 ngày 19/9/2023). Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[6] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:

Do yêu cầu kháng cáo của Bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.

[7] Quan điểm của kiểm sát viên:

Nhận xét và đề nghị của kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của bị đơn Công ty cổ phần T4 (nay là Công ty cổ phần T5 – Cần Thơ).
  • - Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần T4 (nay là Công ty cổ phần T5 – Cần Thơ).

Giữ nguyên bản án sơ thẩm;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn có trách nhiệm trả cho Nguyên đơn tổng số tiền 78.982.050.069 đồng (Bảy mươi tám tỷ chín trăm tám mươi hai triệu không trăm năm mươi ngàn không trăm sáu mươi chín đồng) và 740.269,69 USD (Bảy trăm bốn mươi ngàn hai trăm sáu mươi chín đô la Mỹ và sáu mươi chín xu). Trong đó: Nợ gốc 23.950.000.000 đồng và 304.800 USD; Lãi trong hạn 12.037.590.279 đồng và 20.307,97 USD; Lãi quá hạn 42.994.459.790 đồng và 415.161,72 USD. Tỷ giá quy đổi USD/VNĐ: 24.530 đồng theo Bảng tỷ giá số 26 ngày 19/9/2023.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (20/9/2023), Bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Trường hợp bị đơn không trả nợ hoặc trả nợ không đủ thì Nguyên đơn được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, gồm:

  • + Viện nghiên cứu thủy sản B, địa chỉ Lô B KCN T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ do bị đơn sở hữu theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 726176, số vào sổ cấp GCN: CT00034 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 21/10/2011. (Theo Hợp đồng thế chấp QSD đất, tài sản gắn liền với đất số 339/EIB/SG-TD/TCTS/2011 ngày 14/12/2011. Đăng ký thế chấp bằng tài sản gắn liền với đất tại Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C vào ngày 19/12/2011).
  • + 01 (một) Dây chuyền hoàn chỉnh tẩm bột và chiên tại địa chỉ: Lô B khu công nghiệp T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ do bị đơn sở hữu theo Tờ khai hàng hóa nhập khẩu số 3521/NK/NĐT ngày 15/09/2010; Phụ lục tờ khai hàng hóa nhập khẩu ngày 14/09/2010. (Theo Hợp đồng thế chấp số 346/EIB/SG-TD/TCTS/2011 ngày 15/12/2010. Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/12/2010).

Nếu phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thu hồi nợ thì Bị đơn có trách nhiệm tiếp tục trả đầy đủ nợ gốc và lãi tiền vay cho Nguyên đơn để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán.

  • - Về chi phí thẩm định: Bị đơn có trách nhiệm hoàn trả lại cho Nguyên đơn số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
  • - Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn phải nộp số tiền 205.140.866 đồng (Hai trăm lẻ năm triệu một trăm bốn mươi ngàn tám trăm sáu mươi sáu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn.

Nguyên đơn được nhận lại số tiền 79.985.000 đồng (Bảy mươi chín triệu chín trăm tám mươi lăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 000968 ngày 30/01/2015 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn.

  • - Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Bị đơn phải nộp 2.000.000 đồng, chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004264 ngày 07/11/2023 của Chi cục THA dân sự quận Ô Môn thành án phí (nộp xong).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 23/5/2024.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự.
  • - VKSND TP. Cần Thơ.
  • - CC THADS Q. Ô Môn.
  • - TAND Q. Ô Môn.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Hồng Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/KDTM-PT ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 20/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger