|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/HS-ST Ngày: 24 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thuấn.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Pho.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Duy Nhẫn; ông Hứa Văn Chính và bà Dương Thúy Hồng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Duẩn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2024/TLST- HS ngày 06 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 10/7/2024 đối với bị cáo:
A B
tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/01/1994 tại tỉnh Kon Tum; nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện K, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Hre; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông A N, sinh năm 1960 (đã chết) và bà Y H L, sinh năm 1961; Bị cáo chưa có vợ, con; bị cáo là con thứ 05 trong gia đình có 05 anh chị em. Tiền sự: Không; Tiền án: Có 01 tiền án. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2022/HS-ST ngày 8/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum đã xử phạt bị cáo 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 30/03/2023, bị cáo A B chấp hành xong hình phạt (chưa được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2023. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo A B: Bà Nguyễn Thị Thúy H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K có mặt.
- Bị hại: Ông A N, sinh năm 1960. Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện K, tỉnh Kon Tum (đã chết).
1
- Người đại diện hợp pháp của bị hại A N:
Bà Y H L, sinh năm 1961 (vợ của bị hại). Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện K, tỉnh Kon Tum.
Anh A T, sinh năm 1987 (con của bị hại). Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện K, tỉnh Kon Tum.
Chị Y X, sinh năm 1989 (con của bị hại). Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện K, tỉnh Kon Tum.
Anh A N1, sinh năm 1992 (con của bị hại). Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện K, tỉnh Kon Tum.
Anh A B1, sinh năm 1982 (con của bị hại). Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện K, tỉnh Kon Tum (Anh B1 đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Y H L, anh A T, chị Y X và anh A N1). Anh A B1 có mặt.
- Người làm chứng:
Chị Y P, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện K, tỉnh Kon Tum (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Chị Y H1, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện K, tỉnh Kon Tum (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Chị Y H2, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện K, tỉnh Kon Tum (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Anh A M, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện K, tỉnh Kon Tum (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Chị Y N2, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện K, tỉnh Kon Tum (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Chị Y Đ, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện K, tỉnh Kon Tum (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Chị Y T1 (tên gọi khác: Y T2), sinh năm 1980. Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện K, tỉnh Kon Tum (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người phiên dịch: Ông A S, sinh năm 1971. Địa chỉ làm việc: Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện K, tỉnh Kon Tum có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo A B sống cùng nhà với cha mẹ là ông A N và bà Y H L tại thôn V, xã P, huyện K, tỉnh Kon Tum. Quá trình chung sống, A B biết rõ ông A N bị bệnh về xương khớp nên đi lại bị hạn chế, thể trạng yếu chỉ ngồi ở nhà. Vào khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 16/09/2023, sau khi uống hết 01 lít rượu với A M (người cùng thôn) A B đi về nhà của mình, khi vào trong nhà A B ngửi thấy mùi hôi thối nên đến chỗ ông A N đang nằm thì thấy ông A N đi đại tiện ra quần, A
2
B nói với ông A N dậy đi ra suối tắm nhưng ông A N nói “từ từ mới đi”. A B bực tức nên dùng tay kéo lê ông A N trên sàn nhà đi ra hướng cửa phụ của ngôi nhà, làm ông A N rớt xuống đất cạnh cầu thang. A B không đỡ ông A N dậy mà đi xuống cầu thang đến chỗ ông A N đang nằm gọi ông A N đứng dậy để đi ra suối tắm nhưng ông A N không trả lời và không đứng dậy nên A B dùng tay đánh tát và dùng chân phải đạp mạnh 01 cái vào vùng ngực của ông A N. A B tiếp tục nhặt 01 cây củi gần đó đánh nhiều cái vào mông và chân của ông A N. Sau đó, A B điều khiển xe mô tô đi mua 02 gói dầu gội rồi quay về nhà thấy A N vẫn đang nằm trên nền đất gần cầu thang. A B liền quay đầu xe, rồi đi bộ đến dùng tay kéo và bế ông A N ngồi lên yên xe mô tô BKS: 77G1-347.96. A B điều khiển xe chở ông A N ra suối nước Nong cách nhà 200m. Khi đến gần bờ suối, ông A N bị rơi từ yên xe xuống đất và nằm ngửa. A B dừng lại dựng xe ở giữa đường và đi lại kéo ông A N dậy nhưng A N không đứng dậy được, A B dùng tay đánh vào người A N rồi dùng chân phải giơ lên cao đạp mạnh từ trên xuống 02 cái vào vùng ngực của A N, rồi nói “đứng dậy đến suối rồi”. Lúc này, A B thấy hơi thở của A N rất yếu. Khoảng 02 phút sau, A B kiểm tra thấy tim A N ngừng đập nên nghĩ A N đã chết. Trong lúc, A B dùng chân đạp A N tại bờ suối nước N thì có Y N2 (chị dâu A B) đứng cách đó 115m đã chứng kiến việc A B đánh A N nên đã đi gọi báo cho chồng tên A B1 (anh trai của A B) biết. A Bảy đến kiểm tra và phát hiện A N đã tử vong. Sau đó, A B1 đi gọi A M người cùng thôn đến tiếp tục kiểm tra. Thấy A N đã tử vong, A M đã đi trình báo Công an xã. Còn A B đến Công an xã P đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Tại Kết luận giám định tử thi số 84/KLGĐTT-TTPY ngày 18/09/2023, của Trung tâm giám định pháp y tỉnh K kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
Đầu, mặt: Hai mắt nhắm, miệng khép hờ, hai lỗ tai-mũi không có máu, miệng có máu và gãy răng I.3, vết thương ở bên phải trán nham nhở kích thước (1,5x0,2)cm, vết sây sát da ở bên phải trán kích thước (01x0,8)cm, vết sây sát da ở giữa trán kích thước (01x0,8)cm, vết thương dưới cung mày bên trái bờ mép nham nhở kích thước (02x0,3)cm. Sờ nắn xương sọ chắc.
Ngực: Vết bầm tím ở ngực kích thước (05x03)cm. Sờ nắn không có dấu hiệu gãy xương.
Bụng: Nốt bỏng da và vết vỡ nốt bỏng da (vết bỏng cũ) từ hạ sườn bên trái đến lưng kích thước (29x08)cm.
Tay: Bầm tím cánh tay bên trái kích thước (12x10)cm. Sờ nắn hai tay không có dấu hiệu gãy xương.
Chân: Sây sát ở gối chân bên phải kích thước (02x02)cm, cẳng chân hai bên phải và trái có nhiều vết sây sát da cũ. Sờ nắn hai chân không có dấu hiệu gãy xương.
3
Đầu: Rạch da từ vành tai bên phải lên đỉnh đầu đến vành tai bên trái, bóc tách mô – cơ bộc lộ xương hộp sọ, kiểm tra tổ chức mô – cơ không bầm tụ máu, xương hộp sọ không thấy lún-nứt-vỡ.
Ngực: Rạch da từ hõm ức đến mũi ức, bóc tách mô – cơ bộc lộ xương lồng ngực kiểm tra không thấy gãy xương, cắt sụn sườn hai bên bộc lộ khoang lồng ngực, thấy bầm tụ máu mô – cơ ở dưới xương ức, màng ngoài tim căng phồng, khoang lồng ngực không có máu, dập thùy dưới phổi bên phải, phổi bên trái có bụi phổi, kiểm tra cung sau xương lồng ngực không thấy gãy xương. Mở màng ngoài tim có nhiều máu không đông, thấm lau sạch máu thấy bầm tụ máu ở động mạch phổi và vết vỡ động mạch phổi kích thước (05x0,2)cm, mở tâm nhĩ và tâm thất hai bên không có máu trong buồng tim.
2. Nguyên nhân chết của A N là: Vỡ mạch máu tim + Dập phổi phải.
* Vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ: 01 (một) cây củi gỗ có chiều dài 64cm, đường kính 02 cm.
* Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố đại diện hợp pháp của bị hại A N là ông A B1 (con trai A N; đồng thời là đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp khác của ông A N là bà Y H L, anh A T, chị Y X và anh A N1) không yêu cầu bị cáo A B bồi thường về trách nhiệm dân sự.
- Bản Cáo trạng số 12/CT-VKSKT ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo A B về tội “Giết người” theo quy định tại điểm đ, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum phát biểu ý kiến luận tội đối với bị cáo A B: giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố; phân tích đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Đồng thời, đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng và đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ quy định tại Điều 38; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm đ, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo A B từ 19 năm tù đến 20 năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 16/9/2023).
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại A N không yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây củi gỗ có chiều dài 64cm, đường kính 02 cm là công cụ phạm tội mà bị cáo đã sử dụng.
- Người bào chữa cho bị cáo A B là bà Nguyễn Thị Thúy H có ý kiến như sau: Thống nhất về tội danh, việc áp dụng điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đề nghị. Tại phiên tòa bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã đầu thú
4
và tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại là anh A B1 cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo mức hình phạt là 19 năm tù. Về phần trách nhiệm dân sự, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên đề nghị không xem xét. Về án phí, bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị miễn án phí hình sự cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại A N là ông A B1 (đồng thời là đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp khác của ông A N là bà Y H L, anh A T, chị Y X và anh A N1) có ý kiến: Không yêu cầu bị cáo A B bồi thường gì về phần trách nhiệm dân sự; về trách nhiệm hình sự: đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Bị cáo A B đồng ý với lời bào chữa và ý kiến tranh luận của trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Thị Thúy H; không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì thêm. Lời nói sau cùng bị cáo xin lỗi gia đình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Qua phần tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo A B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng, kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 16/09/2023, sau khi A B đi uống rượu về, vào trong nhà thì ngửi thấy mùi hôi thối và thấy cha của mình là ông A N đã đi đại tiện ra quần. A B gọi ông A N dậy đi ra suối tắm nhưng A N nói “từ từ mới đi”. A B đã dùng tay kéo lê ông A N trên sàn nhà đi ra hướng cửa phụ, làm A N rớt xuống đất cạnh cầu thang. A B tiếp tục gọi ông A N dậy để đi tắm nhưng A N không trả lời và không đứng dậy. Bị cáo liền dùng chân phải đạp mạnh 01 cái vào vùng ngực của ông A N và nhặt 01 cây củi đánh nhiều cái vào mông và chân của ông A N. Sau đó, A B dùng tay kéo và bế ông A N lên ngồi sau xe yên
5
mô tô rồi điều khiển xe chở ông A N ra suối nước Nong cách nhà 200m. Khi đi đến gần bờ suối, ông A N bị rơi xuống đất và nằm ngửa. A B dừng xe và đi lại chỗ A N nằm rồi dùng tay đánh vào người và dùng chân phải giơ lên cao đạp mạnh từ trên xuống 02 cái vào vùng ngực của A N. Lúc này, A B thấy hơi thở của A N rất yếu nên kiểm tra thì thấy tim A N đã ngừng đập. Một lúc sau, anh A B1 và A M đến kiểm tra và phát hiện A N đã tử vong.
Thấy rằng, bị cáo A B sống cùng với ông A N, bị cáo biết rõ cha mình là người cao tuổi, thể trạng yếu, bị bệnh tật đi lại khó khăn nên việc sinh hoạt cá nhân không được như người bình thường; đáng lẽ ra bị cáo phải tận tình phụng dưỡng, giúp đỡ cha mình làm tròn đạo hiếu của một người con. Nhưng sau khi uống rượu về, bị cáo lại có hành vi đánh, đập và dùng chân đạp mạnh nhiều lần vào vùng ngực ông A N hậu quả làm ông A N chết do vỡ mạch máu tim và dập phổi phải. Hành vi trên của bị cáo thể hiện tính côn đồ, coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, gây nguy hiểm đến tính mạng của bị hại nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.
Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo A B đã phạm vào tội “Giết người” được quy định tại điểm đ, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo A B có tính chất đặc biệt nghiêm trọng và đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính chất côn đồ, coi thường pháp luật, đã xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân; tác động xấu đến thuần phong mỹ tục; ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Bị cáo đã bị xét xử và bị xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý gây thương tích”, sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội mà tiếp tục phạm tội “Giết người” với mức độ nghiêm trọng hơn đối với chính cha đẻ của mình.
Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ sức cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời cảnh báo, răn đe, phòng ngừa chung trước tình hình tội phạm xâm phạm về tính mạng, sức khỏe có dấu hiệu gia tăng và diễn biến phức tạp, đặc biệt là giữa những người thân trong nội bộ gia đình trong giai đoạn hiện nay.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
6
[4.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đến Công an xã P, huyện K để đầu thú. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: bị cáo A B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Do đó, cần áp dụng các tình tiết quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[4.2] Về tình tiết tăng nặng: Ngày 08/04/2022, bị cáo bị Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2022/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum xử phạt 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 30/03/2023, bị cáo A B chấp hành xong hình phạt. Đến ngày 16/09/2023, bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian chưa được xóa án tích. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.
[4.3] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây củi gỗ có chiều dài 64cm, đường kính 02 cm – là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện hợp pháp của bị hại A N, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường trách nhiệm dân sự nên, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo A B phải chịu 200.000 đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo thuộc hộ cận nghèo và tại phiên tòa người bào chữa của bị cáo có đề nghị xin được miễn án phí; do đó, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Hội đồng xét xử xét miễn án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm đ, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo A B phạm tội “Giết người”.
Xử phạt: Bị cáo A B 20 (Hai mươi) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 16/9/2023).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015.
7
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây củi gỗ có chiều dài 64cm, đường kính 02 cm.
Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao, nhận ngày 07/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 3; Điều 6; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo A B.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (24/7/2024) lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để yêu cầu giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Thuấn |
8
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM về hình sự sơ thẩm (giết người)
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử sơ thẩm
