Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẾ SƠN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HS-ST

Ngày: 28-6-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mai Loan.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lưu Văn Thành;
  2. Bà Võ Thị Hồng Hải.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Liêm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Trọng Tư, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lương Minh P, sinh ngày 29/12/1999; nơi sinh: huyện T, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: khu phố D, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Minh H và bà Trần Thị Thúy V; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 25/7/2016, bị Công an huyện T xử phạt 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 253/QĐ-XPVPHC; ngày 14/7/2022, bị Công an huyện T xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 147/QĐ-XPVPHC; ngày 17/02/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Bản án số 07/2023/HS-ST, ngày 27/02/2023, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngày 15/03/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số 12/QĐ-VKSQN kháng nghị bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm. Ngày 29/06/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm, xử phạt Lương Minh P 07 năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại Bản án số 120/2023/HS-PT. Bị bắt tạm giữ ngày 03/6/2023, chuyển tạm giam ngày 10/6/2023. Có mặt.
  2. Mai Văn T, sinh ngày 05/02/1995; nơi sinh: huyện T, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: khu phố H, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai văn H1 và bà Trần Thị D; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: không; tiền án: ngày 16/01/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xử phạt 04 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự tại Bản án số 04/2020/HSST ngày 16/01/2020, chấp hành xong hình phạt và ngày 21/10/2022. Nhân thân: ngày 20/6/2018, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 189/QĐ-XPVPHC, đã chấp hành xong ngày 22/6/2018; ngày 12/8/2019, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị bắt tạm giữ ngày 03/6/2023, chuyển tạm giam ngày 10/6/2023. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Phạm Ngọc H2, sinh năm 1976; Vắng mặt
  • Địa chỉ: khu phố B, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.
  • + Ông Lương Minh H, sinh năm 1966; Có mặt
  • + Bà Trần Thị Thúy V, sinh năm: 1969; Có mặt
  • Cùng địa chỉ: khu phố D, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
  • + Bà Mai Thị Y, sinh năm 1992; Có mặt
  • Địa chỉ: khu phố H, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

- Người làm chứng:

  • + Ông Lê Văn T1, sinh năm 1958; Vắng mặt
  • Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
  • + Ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1979; Vắng mặt
  • Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 03/06/2023, bị cáo T sử dụng Facebook với tên “Giã từ cát bụi” nhắn tin cho bị cáo P qua Facebook với tên “Lương P” để nhờ mua giúp 8.000.000 (tám triệu) đồng ma túy đá. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, bị cáo P đồng ý. Bị cáo P yêu cầu bị cáo T chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng V2 của bị cáo P với số tài khoản 1651000021709000. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo T đồng ý rồi dùng số tài khoản 6879050295 ngân hàng M chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 của bị cáo P với số tài khoản 165100021709000 số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng. Bị cáo P gọi qua zalo cho Phạm Ngọc H2 để hỏi mua 21.000.000 (hai mươi mốt triệu) đồng ma túy đá. H2 đồng ý, nói bị cáo P chuyển tiền cho H2 qua số tài khoản 1619000046699000 Ngân hàng V2. Đến khoảng 17 giờ 08 phút cùng ngày, bị cáo P sử dụng tài khoản ngân hàng V2 chuyển cho H2 số tiền 21.000.000 (hai mươi mốt triệu) đồng. H2 hẹn bị cáo P đến khu vực cầu B, huyện Q để lấy ma túy. P điều khiển xe mô tô Vario, màu trắng, biển số 92H1-960.95 từ nhà đến khu vực cầu B để gặp H2. H2 đưa cho một gói ma túy đá được gói trong túi ni lông. Bị cáo P lấy ma túy cất trong túi áo rồi gọi cho bị cáo T thông báo đã lấy được ma túy đồng thời hẹn địa điểm để đưa ma túy. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo T đang đi mua cây tại huyện N nên nói bị cáo P chạy lên hướng H - Đ còn bị cáo T điều khiển xe mô tô Raider biển số 92H1.666.24 đi theo hướng Đ - H. Cả 2 chia sẻ vị trí cho nhau qua ứng dụng Facebook và gặp nhau tại đường ĐT611 thuộc thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo P và bị cáo T đi vào khu đất trống gần đó để chia ma túy ra nhưng vì gió nên không thể chia ma túy ra được. Lúc này, ông Lê Văn T1 đang trên đường đi về nhà, phát hiện hai bị cáo vào khu đất trống có nhiều nghi vấn nên gọi điện thoại báo cho Công an xã Q. Nhận được tin báo, Công an xã Q đến hiện trường kiểm tra phát hiện số ma túy mà bị cáo P đang cất giấu trong người. Tiếp tục kiểm tra trên người của bị cáo T phát hiện ma túy đá được gói trong túi ni lông. Công an xã Q lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q để điều tra.

Đối với số ma tuý thu giữ trên người, bị cáo T khai nhận: vào ngày 01/06/2023, bị cáo T điều khiển xe mô tô biển số Raider, biển số 92H1-666.24 đến khu vực đường N, thuộc thành phố Đà Nẵng gặp một người tên V1 (không rõ họ tên đầy đủ, năm sinh, địa chỉ cụ thể) và mua 3.000.000 (ba triệu) đồng ma túy đá về để sử dụng. Bị cáo T mang về cất giấu trên người chưa sử dụng. Đến ngày 03/06/2023, khi đang tàng trữ số ma túy trên trong người và tiếp tục nhờ bị cáo P mua giúp ma túy thì bị bắt.

Ngày 04/06/2023, Cơ quan Cảnh sát Công an huyện Q ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 04/LKX-ĐTTH, 05/LKX-ĐTTH khám xét chỗ ở của Lương Minh P tại nhà thuộc khu phố D, thị trấn H, huyện T và chỗ ở của Mai Văn T tại nhà thuộc khu phố H, thị trấn H, huyện T. Quá trình khám xét tại nhà của T không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Khám xét tại nhà của P thu giữ 01 gói chất rắn màu trắng dạng tinh thể bên trong túi quần tại phòng ngủ của P.

Tại bản Kết luận giám định số 1115/KL-KTHS ngày 07/06/2023 của Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể thu giữ trên người của P là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 29,42 gam. Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể thu giữ trên người của T là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,87 gam. Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể thu giữ tại nhà của P là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 3,19 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 1116/KL-KTHS ngày 19/06/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: trên túi nilon kích thước 7,5 x 4 cm (túi nilon bên trong có chứa ma túy thu giữ tại nhà Lương Minh P) có ADN của Lương Minh P, không có ADN của Mai Văn T. Trên túi nilon kích thước 11 x 7 cm (túi nilon bên trong có chứa ma túy thu giữ trên người của Lương Minh P) có ADN lẫn của nhiều người, không đủ điều kiện truy nguyên đối tượng. Trên túi nilon kích thước 7,1 x 4,1 cm (túi nilon bên trong có chứa ma túy thu giữ trên người của Mai Văn T) có ADN người, do chất lượng dấu vết kém nên ADN phân tích được không đủ điều kiện để truy nguyên đối tượng.

Vật chứng trong vụ án:

- Trên người của bị cáo Lương Minh P: 01 (một) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật có diện 11 x 7 cm, bên trong có chứa chất ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 29,42 gam; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu trắng, loại 64GB, số S: C38QM6FYGRWY, bên trong có chứa thẻ sim số 0932430775 (không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) điện thoại di động hiệu Tecno, màu xanh, bên trong có chứa thẻ sim số 0777455258 (không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) thẻ ATM ngân hàng V2 mang tên Trần Thị Thúy V; 01 (một) bật lửa màu vàng, có chữ "Broad"; 01 (một) chai thủy tinh có chứa dung dịch màu trắng, có chữ "Vippro"; 01 (một) cục sạc pin dự phòng màu đen và 01 (một) dây cáp sạc màu vàng đồng; 01 (một) xe mô tô hiệu Vario, màu trắng, biển số 92H1-960.95 (không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) áo khoác màu trắng có mũ áo dính liền, loại vải dù, có hai túi áo ở hai bên, trên tay áo có bốn sọc kẻ ngang màu đen, phía sau lưng áo có hai kẻ sọc màu đen và màu đỏ.

- Khám xét nhà của bị cáo P: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu bạc, số IMEI: 35332507000905, bên trong có chứa thẻ sim số 0818808072 (không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) bộ D1 sử dụng ma tuý đá gồm: 01 (một) ống hút bằng nhựa màu xanh - trắng dài 14,5 cm; 01 (một) vỏ chai nước bằng nhựa, có nắp màu đỏ; 01 (một) nỏ thuỷ tinh dài 12,5 cm; 01 (một) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật có diện 7,5 x 4 cm, miệng túi có viền màu đỏ, bên trong có chất chứa ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 3,19 gam.

- Trên người của bị cáo Mai Văn T: 01 (một) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật có diện 7,1 x 4,1 cm, bên trong có chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,85 gam; 01 (một) điện thoại di động hiệu S Galaxy A52S, màu xanh trắng, số IMEI1: 350346451573599, số IMEI2: 35089526573595, bên trong có 02 (hai) sim điện thoại số 0342.659.xxx và 0913050295 (không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Raider, màu đen, biển số 92H1-666.24 (không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 043753 mang tên Mai Thị Y, biển số 92H1-666.24; số tiền 1.740.000 đồng (một triệu, bảy trăm bốn mươi nghìn đồng); 01 (một) con dao có vỏ màu đen được bọc da, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 26 cm, một cạnh sắc, cán dao bằng kim loại dài 11 cm, phần vỏ dài 29,8 cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 2,4 cm; 07 (bảy) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật, có viền màu đỏ, kích thước 4,1 x 7,4 cm; 08 (tám) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật, có viền màu đỏ, kích thước 4,2 x 4 cm; 10 (mười) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật, có viền màu xanh dương, kích thước 3,6 x 3 cm; 09 (chín) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật, có viền màu xanh lục, kích thước 2 x 2 cm; 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; 01 (một) bật lửa màu xanh; 04 (bốn) ống hút bằng thủy tinh đường kính 0,6 cm có chiều dài lần lượt là 20 cm, 21 cm, 20 cm, 20,5 cm; 06 (sáu) ống hút nhựa màu vàng trắng, đường kính 0,6 cm, dài 26,6 cm; 01 (một) thẻ sim điện thoại, bên trên có dòng chữ 4G V3 và dòng số 8984.0480.0092.0411.349; 01 (một) cái kéo màu xanh; 01 (một) Chứng minh nhân dân số [...] mang tên Mai Văn T; 01 (một) giấy phép lái xe số [...] mang tên Mai Văn T hạng A1, B2.

Tại Cáo trạng số 16/CT-VKSQS ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Lương Minh P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Mai Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm b, g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo tại Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lương Minh P và Mai Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;

- Căn cứ điểm b, khoản 3 Điều 249; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lương Minh P mức án từ 10 đến 11 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ.

- Căn cứ điểm b, g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Mai Văn T mức án từ 06 đến 07 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, hành vi của các bị cáo có thể áp dụng hình phạt tiền bổ sung nhưng xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không đề nghị áp dụng.

Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Tịch thu tiêu huỷ:

  • + 01 túi niêm phong số 1115/KL-KTHS của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định bao gồm: 29,25 gam chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong túi niêm phong mã số PS32037846; 1,68 gam chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong túi niêm phong mã số PS32037847; 3,01 gam chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong túi niêm phong mã số PS32037826 và toàn bộ vỏ bao gói.
  • + 01 túi niêm phong số 1116/KL-KTHS của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định bao gồm: các túi ni lon trong suốt, hình chữ nhật có các kích thước 11 x 7 cm; 7,1 x 4,1 cm; 7,5 x 4 cm.
  • + 01 (một) bật lửa màu vàng, có chữ "Broad"; 01 (một) chai thủy tinh có chứa dung dịch màu trắng, có chữ "Vippro"; 01 (một) áo khoác màu trắng có mũ áo dính liền, loại vải dù, có hai túi áo ở hai bên, trên tay áo có bốn sọc kẻ ngang màu đen, phía sau lưng áo có hai kẻ sọc màu đen và màu đỏ; Các sim số 0932430775; số 0777455258; số 0342659962 và số 0913050295; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá gồm: 01 (một) ống hút bằng nhựa màu xanh - trắng dài 14,5 cm; 01 (một) vỏ chai nước bằng nhựa, có nắp màu đỏ; 01 (một) nỏ thuỷ tinh dài 12,5 cm; 07 (bảy) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật có viền màu đỏ kích thước 4,1 x 7,4 cm; 08 (tám) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật, có viền màu đỏ kích thước 4,2 x 4 cm; 10 (mười) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật có viền màu xanh dương kích thước 3,6 x 3 cm; 09 (chín) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật có viền màu xanh lục kích thước 2 x 2 cm; 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; 01 (một) bật lửa màu xanh; 04 (bốn) ống hút bằng thủy tinh đường kính 0,6cm có chiều dài lần lượt là 20 cm, 21 cm, 20 cm, 20,5 cm; 06 (sáu) ống hút nhựa màu vàng trắng, đường kính 0,6 cm, dài 26,6 cm; 01 (một) thẻ sim điện thoại, bên trên có dòng chữ 4G V3 và dòng số 8984.0480.0092.0411.349; 01 (một) cái kéo màu xanh; 01 (một) con dao có vỏ màu đen được bọc da, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 26cm, một cạnh sắc, cán dao bằng kim loại dài 11cm, phần vỏ dài 29.8cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 2,4 cm.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu trắng, loại 64 GB, số S: C38QM6FYGRWY; 01 (một) điện thoại di động hiệu Tecno, màu xanh; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52S màu xanh trắng, số IMEI1: 350346451573599, số IMEI2: 35089526573595;

- Trả lại cho bà Trần Thị Thúy V 01 (một) thẻ ATM ngân hàng V2 mang tên Trần Thị Thúy V.

- Trả lại cho bị cáo Lương Minh P 01 (một) cục sạc pin dự phòng màu đen và 01 (một) dây cáp sạc màu vàng đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu bạc, số IMEI: 35332507000905, bên trong có chứa thẻ sim số 0818808072;

- Trả lại cho bị cáo Mai Văn T 01 (một) Chứng minh nhân dân số [...] mang tên Mai Văn T; 01 (một) giấy phép lái xe số [...] mang tên Mai Văn T hạng A1, B2;

- Trả lại cho ông Lương Minh H 01 (một) xe mô tô hiệu Vario, màu trắng, biển số 92H1-960.95;

- Trả lại cho chị Mai Thị Y 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Raider, màu đen, biển số 92H1-666.24 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 043753 mang tên Mai Thị Y;

- Tạm giữ số tiền của bị cáo Mai Văn T là 1.740.000 (một triệu, bảy trăm bốn mươi nghìn) đồng để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Ngọc H2 và người làm chứng ông Lê Văn T1, ông Huỳnh Văn T2 vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy người làm chứng đã có lời khai tại hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 292, 293 và 299 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt họ tại phiên tòa.

[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3]. Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đối chiếu với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:

Vào ngày 03/6/2023, bị cáo T nhờ bị cáo P mua hộ 10 gam ma túy, loại Methamphetamine và cất giấu trong người 1,87 gam ma túy loại Methamphetamine. Tổng cộng bị cáo T tàng trữ 11,87 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng. Bị cáo P là cất giấu 29,42 gam ma túy, loại Methamphetamine trên người (gồm 10 gam ma tuý mua hộ cho Mai Văn T và 19,42 gam mua cho bản thân). Bị cáo P còn cất giấu 3,19 gam ma túy, loại Methamphetamine tại nhà. Tổng cộng, bị cáo P tàng trữ 32,61 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng. Ngoài 10 gam ma tuý loại Methamphetamin nhờ bị cáo P mua hộ, bị cáo T còn có hành vi tàng trữ trong người 1,87 gam ma túy loại Methamphetamine. Do đó, bị cáo T phải chịu tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, ngày 16/01/2020, bị cáo T bị Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xử phạt 04 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự (là tội rất nghiêm trọng). Ngày 21/10/2022, bị cáo chấp hành xong bản án chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự (là tội rất nghiêm trọng). Do đó, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự, bị cáo Mai Văn T phải chịu thêm tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, hành vi trên của bị cáo P đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự và hành vi của bị cáo T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, Cáo trạng số 16/CT-VKSQS ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, các bị cáo vẫn bất chấp thực hiện. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý mà còn là nguy cơ tiềm ẩn các hành vi vi phạm pháp luật khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.

[5]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:

Các bị cáo đều có nhân thân xấu. Các bị cáo P và T đều 02 lần bị Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo P bị Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Bản án số 07/2023/HS-ST, ngày 27/02/2023, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngày 15/03/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số 12/QĐ-VKSQN kháng nghị bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm. Ngày 29/06/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm, xử phạt Lương Minh P 07 năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại Bản án số 120/2023/HS-PT. Bị cáo T có 01 tiền án: ngày 16/01/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xử phạt 04 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự tại Bản án số 04/2020/HSST ngày 16/01/2020, chấp hành xong hình phạt vào ngày 21/10/2022.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: ngoài hành vi tàng trữ 29.42 gam ma tuý khi bị bắt quả tang thì bị cáo P còn có hành vi tàng trữ 3,19 gam ma túy, loại Methamphetamine tại nhà. Do đó, bị cáo P còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo P có cha là ông Lương Minh H được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba và Huân chương chiến sỹ vẻ vang; bản thân có thành tích trong công tác “Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc”. Bị cáo T đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, có cha bị tàn tật, có bác ruột là liệt sĩ. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình nhưng nhất thiết phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo.

Bị cáo P trong khi chờ xét xử phúc thẩm mà thực hiện hành vi phạm tội mới, vì vậy Tòa án áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

[6]. Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, hành vi của các bị cáo có thể áp dụng hình phạt tiền bổ sung nhưng xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng.

[7]. Đối với hành vi của những người có liên quan đến vụ án:

  • - Đối với hành vi bán ma túy của Phạm Ngọc H2, sinh năm 1976 trú tại khu phố B, phường V, thị xã Đ. Quá trình điều tra H2 không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra Công an huyện Q đã ra Quyết định truy tìm đối với H2 nhưng vẫn chưa làm việc được. Lời khai của bị cáo P khẳng định H2 bán ma túy cho bị cáo P qua liên lạc bằng ứng dụng Zalo. Cơ quan điều tra đã có văn bản yêu cầu cung cấp thông tin đối với số thuê bao dùng để đăng ký tài khoản zalo mà H2 dùng để liên lạc với bị cáo P trong quá trình mua bán ma tuý nhưng chưa có kết quả trả lời. Bị cáo P khai mua ma túy của H2 02 lần với tổng khối lượng 32,61 gam. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã chuyển thông tin đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q thụ lý theo thẩm quyền. Ngày 31/5/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q có Thông báo về việc tiếp nhận tin báo về tội phạm số 2441/TB-CSMT.
  • - Đối với hành vi bán ma túy của người đàn ông tên V1 tại Đà Nẵng. Bị cáo T không biết cụ thể họ tên, tuổi, địa chỉ, thông tin của V1 nên không đủ cơ sở xác minh, xử lý.
  • - Đối với xe mô tô Suzuki, loại Raider biển số 92H1-666.24 do chị Mai Thị Y là chị ruột của bị cáo T đứng tên chủ sở hữu. Chị Y cho bị cáo T mượn xe mô tô trên để đi chơi và không biết việc bị cáo sử dụng xe mô tô này để đi mua ma túy về sử dụng nên không xem xét, xử lý.
  • - Đối với xe mô tô Vario, màu trắng, biển số 92H1-960.95 do ông Lương Minh H là cha ruột của bị can P đứng tên chủ sở hữu. Ông H cho bị cáo P mượn xe mô tô trên để đi chơi và không biết việc bị cáo P tàng trữ trái phép chất ma túy nên không xem xét, xử lý.
  • - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo T tại thành phố Đà Nẵng và bị cáo P tại thị trấn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã có văn bản đề nghị Công an phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng và Công an thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam xử phạt vi phạm hành chính.

[8]. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu huỷ:

  • + 01 túi niêm phong số 1115/KL-KTHS của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định bao gồm: 29,25 gam chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong túi niêm phong mã số PS32037846; 1,68 gam chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong túi niêm phong mã số PS32037847; 3,01 gam chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong túi niêm phong mã số PS32037826 và toàn bộ vỏ bao gói.
  • + 01 túi niêm phong số 1116/KL-KTHS của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định bao gồm: các túi ni lon trong suốt, hình chữ nhật có các kích thước 11 x 7 cm; 7,1 x 4,1 cm; 7,5 x 4 cm.
  • + 01 (một) bật lửa màu vàng, có chữ "Broad"; 01 (một) chai thủy tinh có chứa dung dịch màu trắng, có chữ "Vippro"; 01 (một) áo khoác màu trắng có mũ áo dính liền, loại vải dù, có hai túi áo ở hai bên, trên tay áo có bốn sọc kẻ ngang màu đen, phía sau lưng áo có hai kẻ sọc màu đen và màu đỏ, các sim số 0932430775; số 0777455258; số 0342659962 và số 0913050295; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá gồm: 01 (một) ống hút bằng nhựa màu xanh - trắng dài 14,5 cm; 01 (một) vỏ chai nước bằng nhựa, có nắp màu đỏ; 01 (một) nỏ thuỷ tinh dài 12,5 cm; 07 (bảy) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật có viền màu đỏ kích thước 4,1 x 7,4 cm; 08 (tám) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật, có viền màu đỏ kích thước 4,2 x 4 cm; 10 (mười) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật có viền màu xanh dương kích thước 3,6 x 3 cm; 09 (chín) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật có viền màu xanh lục kích thước 2 x 2 cm; 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; 01 (một) bật lửa màu xanh; 04 (bốn) ống hút bằng thủy tinh đường kính 0,6cm có chiều dài lần lượt là 20 cm, 21 cm, 20 cm, 20,5 cm; 06 (sáu) ống hút nhựa màu vàng trắng, đường kính 0,6 cm, dài 26,6 cm; 01 (một) thẻ sim điện thoại, bên trên có dòng chữ 4G V3 và dòng số 8984.0480.0092.0411.349; 01 (một) cái kéo màu xanh; 01 (một) con dao có vỏ màu đen được bọc da, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 26cm, một cạnh sắc, cán dao bằng kim loại dài 11cm, phần vỏ dài 29.8cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 2,4 cm;

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu trắng, loại 64 GB, số S: C38QM6FYGRWY; 01 (một) điện thoại di động hiệu Tecno, màu xanh; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52S màu xanh trắng, số IMEI1: 350346451573599, số IMEI2: 35089526573595;

- Trả lại cho bà Trần Thị Thúy V 01 (một) thẻ ATM ngân hàng V2 mang tên Trần Thị Thúy V.

- Trả lại cho bị cáo Lương Minh P 01 (một) cục sạc pin dự phòng màu đen và 01 (một) dây cáp sạc màu vàng đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu bạc, số IMEI: 35332507000905, bên trong có chứa thẻ sim số 0818808072;

- Trả lại cho bị cáo Mai Văn T 01 (một) Chứng minh nhân dân số [...] mang tên Mai Văn T, 01 (một) giấy phép lái xe số [...] mang tên Mai Văn T hạng A1, B2;

- Trả lại cho ông Lương Minh H 01 (một) xe mô tô hiệu Vario, màu trắng, biển số 92H1-960.95;

- Trả lại cho chị Mai Thị Y 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Raider, màu đen, biển số 92H1-666.24 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 043753 mang tên Mai Thị Y;

- Tạm giữ số tiền của bị cáo Mai Văn T là 1.740.000 (một triệu, bảy trăm bốn mươi nghìn) đồng để đảm bảo thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: các bị cáo Lương Minh P và Mai Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Lương Minh P 11 (mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (03/6/2023).
  • Căn cứ vào Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt 07 năm tù tại Bản án số 120/2023/HS-PT ngày 29/06/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, buộc bị cáo Lương Minh P phải chấp hành hình phạt chung là 18 năm, được trừ thời gian bị tạm giữ trong vụ án trước là 03 ngày (từ ngày 06/7/2022 đến ngày 09/7/2022). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (03/6/2023).
  • - Căn cứ điểm b, g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Mai Văn T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (03/6/2023).
  1. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Tịch thu tiêu huỷ:
  • + 01 túi niêm phong số 1115/KL-KTHS của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định bao gồm: 29,25 gam chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong túi niêm phong mã số PS32037846; 1,68 gam chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong túi niêm phong mã số PS32037847; 3,01 gam chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong túi niêm phong mã số PS32037826 và toàn bộ vỏ bao gói.
  • + 01 túi niêm phong số 1116/KL-KTHS của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định bao gồm: các túi ni lon trong suốt, hình chữ nhật có các kích thước 11 x 7 cm; 7,1 x 4,1 cm; 7,5 x 4 cm.
  • + 01 (một) bật lửa màu vàng, có chữ "Broad"; 01 (một) chai thủy tinh có chứa dung dịch màu trắng, có chữ "Vippro"; 01 (một) áo khoác màu trắng có mũ áo dính liền, loại vải dù, có hai túi áo ở hai bên, trên tay áo có bốn sọc kẻ ngang màu đen, phía sau lưng áo có hai kẻ sọc màu đen và màu đỏ, các sim số 0932430775; số 0777455258; số 0342659962 và số 0913050295; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá gồm: 01 (một) ống hút bằng nhựa màu xanh - trắng dài 14,5 cm; 01 (một) vỏ chai nước bằng nhựa, có nắp màu đỏ; 01 (một) nỏ thuỷ tinh dài 12,5 cm; 07 (bảy) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật có viền màu đỏ kích thước 4,1 x 7,4 cm; 08 (tám) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật, có viền màu đỏ kích thước 4,2 x 4 cm; 10 (mười) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật có viền màu xanh dương kích thước 3,6 x 3 cm; 09 (chín) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật có viền màu xanh lục kích thước 2 x 2 cm; 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; 01 (một) bật lửa màu xanh; 04 (bốn) ống hút bằng thủy tinh đường kính 0,6cm có chiều dài lần lượt là 20 cm, 21 cm, 20 cm, 20,5 cm; 06 (sáu) ống hút nhựa màu vàng trắng, đường kính 0,6 cm, dài 26,6 cm; 01 (một) thẻ sim điện thoại, bên trên có dòng chữ 4G V3 và dòng số 8984.0480.0092.0411.349; 01 (một) cái kéo màu xanh; 01 (một) con dao có vỏ màu đen được bọc da, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 26cm, một cạnh sắc, cán dao bằng kim loại dài 11cm, phần vỏ dài 29.8cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 2,4 cm;
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu trắng, loại 64 GB, số S: C38QM6FYGRWY; 01 (một) điện thoại di động hiệu Tecno, màu xanh; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52S màu xanh trắng, số IMEI1: 350346451573599, số IMEI2: 35089526573595;
  • Trả lại cho bà Trần Thị Thúy V 01 (một) thẻ ATM ngân hàng V2 mang tên Trần Thị Thúy V.
  • Trả lại cho bị cáo Lương Minh P 01 (một) cục sạc pin dự phòng màu đen và 01 (một) dây cáp sạc màu vàng đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu bạc, số IMEI: 35332507000905, bên trong có chứa thẻ sim số 0818808072;
  • Trả lại cho bị cáo Mai Văn T 01 (một) Chứng minh nhân dân số [...] mang tên Mai Văn T, 01 (một) giấy phép lái xe số [...] mang tên Mai Văn T hạng A1, B2;
  • Trả lại cho ông Lương Minh H 01 (một) xe mô tô hiệu Vario, màu trắng, biển số 92H1-960.95;
  • Trả lại cho chị Mai Thị Y 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Raider, màu đen, biển số 92H1-666.24 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 043753 mang tên Mai Thị Y;
  • Tạm giữ số tiền của bị cáo Mai Văn T là 1.740.000 (một triệu, bảy trăm bốn mươi nghìn) đồng để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/6/2024. Riêng số tiền 1.740.000 đồng (một triệu, bảy trăm bốn mươi nghìn đồng) được tạm gửi tại Kho bạc huyện Q theo ủy nhiệm chi ngày 02/6/2024).

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
  2. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28-6-2024). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND huyện Quế Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Quế Sơn;
  • - Văn phòng Công an huyện Quế Sơn;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Quế Sơn;
  • - Bộ phận HSNV CA huyện Quế Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Bị cáo, người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mai Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 20/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Minh P và đồng phạm phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger