|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/HS-ST Ngày: 29-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Lê Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Kim Hoa và ông Nguyễn Thành Luân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thúy Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Lê Văn B; sinh ngày 18/9/2005, tại Quảng Trị; nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Công nhân tại Công ty M, huyện H, tỉnh Quảng Trị; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Hữu T và bà Võ Thị H.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên toà.
2. Hồ Minh Q. Sinh ngày 14/11/2004, tại Quảng Trị. Nơi cư trú: Khu phố A, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Duy T1 và bà Phan Thị H1.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Tại bản án số 35/2024/HS-ST ngày 24/5/2024, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt bị cáo Q 06 tháng tù về tội “Rửa tiền”.
- Tại Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 17/7/2024, Toà án nhân dân thị xã Quảng Trị xử phạt 08 tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù về tội "Rửa tiền" tại Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, xử phạt bị cáo Hồ Minh Q 14 (Mười bốn) tháng tù, trừ đi thời gian đã tạm giam.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/5/2024 tại nhà Tạm giữ Công an thị xã Q cho đến nay – Có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Chị Nguyễn Thị H2; sinh năm 1999; địa chỉ: T, phường M, quận H, thành phố Hà Nội – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhằm chiếm đoạt tiền trong tài khoản của người khác, khoảng cuối tháng 12/2021, bị cáo Lê Văn B và bị cáo Hồ Minh Q bàn bạc thống nhất: Lê Văn B vào trang mạng xã hội facebook tìm kiếm cơ hội để xâm nhập, chiếm đoạt tài khoản ngân hàng của người khác, còn Hồ Minh Q liên hệ với đại lý rửa tiền qua ứng dụng mạng xã hội Telegram. Sau khi liên hệ được, Q đã cung cấp cho B một tài khoản số [...] mang tên Phan Huy H3 thuộc ngân hàng TMCP Q1 .
Khoảng 07 giờ 15 phút, ngày 02/01/2022, B điện thoại thông báo cho Q biết việc B đến quán I, đường T thuộc Phường C thị xã Q để thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền trong tài khoản của người khác. Tại quán này, B sử dụng máy tính có kết nối internet, sử dụng tài khoản facebook đã mua trước đó để vào hội nhóm mua áo quần trên mạng xã hội, thấy tài khoản facebook “Hoa N” của chị Nguyễn Thị Hoa đ bán 01 chiếc váy với giá 150.000 đồng, B nhắn tin đặt vấn đề mua và được chị H2 đồng ý, B yêu cầu chị H2 cung cấp số tài khoản ngân hàng để chuyển tiền. Sau khi chị H2 cung cấp số tài khoản 04910001644744 thuộc Ngân hàng V, mang tên Nguyễn Thị H2, B tải một bill chuyển tiền giả trên mạng về chỉnh sửa lại cho trùng khớp với các thông tin và số tiền chuyển khoản rồi gửi bill chuyển tiền kèm đường link trên trang website cho chị H2 và đề nghị chị H2 nhập đầy đủ các thông tin để nhận tiền. Sau khi chị H2 nhập các thông tin vào đường link thì B chiếm được quyền quản lý tài khoản ngân hàng của chị H2 và thực hiện chuyển 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) từ tài khoản ngân hàng của chị H2 vào tài khoản ngân hàng số 9850188686666 mang tên Phan Huy H3 thuộc ngân hàng M1 do Q đưa trước đó. Sau khi chuyển tiền thành công, B sử dụng điện thoại chụp lại biên lai chuyển tiền thành công gửi cho Q. Q liên hệ chủ tài khoản nhận rửa tiền đồng thời cung cấp tài khoản số [...], thuộc ngân hàng V1, mang tên Hồ Minh Q cho người nhận rữa tiền. Khoảng ít phút sau, tài khoản ngân hàng của Q nhận được 25.500.000 đồng (hai mươi lăm triệu năm trăm ngàn đồng) từ tài khoản số 10687239051, thuộc ngân hàng V2, mang tên Lê Hoàng A. Sau khi nhận tiền, Q sử dụng điện thoại có đăng ký banking của mình chuyển cho Bão 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) vào tài khoản ngân hàng V1 số [...], mang tên Lê Văn B. Sau khi đã chiếm đoạt được tiền, Bão thu hồi tin nhắn, đường link và xóa tài khoản facebook đã thực hiện. Số tiền chiếm đoạt được B và Q đã tiêu xài cá nhân hết.
Quá trình điều tra vụ án, Lê Văn B và Hồ Minh Q đã cùng với gia đình bồi thường thiệt hại cho chị Nguyễn Thị H2 số tiền 30.000.000 đồng. Chị H2 đã được nhận đủ tiền bồi thường nên không yêu cầu gì.
Cáo trạng số: 18/CT-VKS-TXQT ngày 26/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị truy tố: Bị cáo Lê Văn B và bị cáo Hồ Minh Q đã phạm vào tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị như sau:
- Về trách nhiệm hình sự:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 290; khoản 1, 3 Điều 17; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn B từ 07 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 đến 20 tháng, kể từ ngày tuyên án.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 290; khoản 1, 3 Điều 17; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, khoản 1 Điều 101 BLHS đề nghị xử bị cáo Hồ Minh Q từ 5-7 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam ngày 03/5/2024. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự đề nghị tổng hợp với hình phạt 14 tháng tù tại Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị và được trừ đi thời gian đã tạm giam từ 20/7/2023 đến ngày 16/12/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị H2 đã được nhận đủ tiền bồi thường, không yêu cầu gì nên không xem xét.
- Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị xử buộc các bị cáo Lê Văn B và Hồ Minh Q chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Đối với các hành vi mà các bị cáo, đối tượng khác thực hiện, Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiến hành điều tra, làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý, giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Xét lời khai nhận tội tại phiên tòa hôm nay của bị cáo Lê Văn B và bị cáo Hồ Minh Q phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận: Sau khi thống nhất từ trước, ngày 02/01/2022, tại quán I ở đường T, thị xã Q, bị cáo Lê Văn B đã sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông đánh cắp thông tin về số tài khoản, mật khẩu banking, mã OTP và chiếm đoạt quyền quản lý tài khoản ngân hàng số 4910001644744 thuộc Ngân hàng V của chị Nguyễn Thị H2 rồi sử dụng các thông tin này thực hiện việc chuyển 30.000.000 đồng trong tài khoản của chị H2 vào tài khoản ngân hàng do Hồ Minh Q cung cấp trước đó để rút tiền chia nhau hưởng lợi.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực an ninh mạng viễn thông, đồng thời xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân, Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị truy tố bị cáo Lê Văn B và Hồ Minh Q về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt:
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Lê Văn B là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Hồ Minh Q là người giúp sức.
Các bị cáo có tuổi đời còn rất trẻ, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, là người dưới 18 tuổi, được gia đình kỳ vọng có công việc ổn định cho bản thân và đóng góp lợi ích cho xã hội, nhưng các bị cáo lại tham gia vào các trang mạng xã hội, tìm cách chiếm đoạt tài sản của người khác, nhằm tiêu xài cá nhân.
- Đối với bị cáo Lê Văn B: Là người trực tiếp thực hiện các hành vi nhằm chiếm đoạt tiền trong khoản ngân hàng của chị H2, bị cáo cũng là người hưởng lợi nhiều hơn trong tổng số tiền chiếm đoạt được, nên bị cáo B phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo Q. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra bị cáo B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực tác động đến gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu bị hại; được chị H2 xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có bà ngoại là Võ Thị K được Chủ tịch nước tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, cần căn cứ khoản 1, 3 Điều 17; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo B hình phạt tù cho hưởng án treo là thỏa đáng.
- Đối với bị cáo Hồ Minh Q: Là người giúp sức cho các bị cáo Lê Văn B trong việc chiếm đoạt tiền của bị hại. Trong quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của bị hại; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân, tại Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 24/5/2024, bị cáo đã bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt về tội “Rửa tiền”; bản án số 35/2024/HS-ST ngày 24/5/2024, bị Toà án nhân dân thị xã Quảng Trị xét xử về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt chung hai bản án là 14 tháng tù. Vì vậy, căn cứ khoản 1, 3 Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự cần xử phạt bị cáo Q hình phạt tù và buộc chấp hành tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định. Việc tổng hợp hình phạt 14 tháng tù của bản án trước và hình phạt của vụ án hiện tại theo Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[4] Bị cáo Hồ Minh Q đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam. Căn cứ Điều 329 của BL TTHS cần tiếp tục ra quyết định tạm giam đối với bị cáo Q.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị H2 đã được nhận đủ tiền bồi thường, không yêu cầu gì nên không xem xét.
[6] Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[7] Đối với hành vi khác mà các bị cáo và các đối tượng khác thực hiện:
- Đối với số tiền chiếm đoạt còn lại trong tài khoản của Hồ Minh Q, Q khai nhận không xác định được đã chiếm đoạt của ai, số tiền cụ thể là bao nhiêu. Cơ quan điều tra Công an thị xã Q đã có thông báo truy tìm bị hại. Khi nào xác định được bị hại và chứng minh được hành vi phạm tội của Q thì sẽ xử lý bằng một vụ án khác.
- Đối với Phan Huy H3 (Sinh năm 1996, trú tại phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương) là người đứng tên chủ tài khoản ngân hàng M2 có số tài khoản 9850188686666. Quá trình điều tra, Phan Huy H3 khai nhận là không mở tài khoản ngân hàng và không cho ai mượn thông tin để mở tài khoản ngân hàng trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh thông tin chủ thuê bao số điện thoại 0974.178.xxx được sử dụng để đăng ký trong hồ sơ mở tài khoản ngân hàng tại Tập đoàn V3 nhưng đến nay chưa có kết quả. Bên cạnh đó, Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định chữ viết trên hồ sơ mở tài khoản ngân hàng với chữ viết của Phan Huy H3, tuy nhiên không đủ cơ sở để tiến hành giám định.
- Đối với Mai Cao T2 (Sinh năm 1985, trú tại V, K, Thái Bình) là người đứng tên chủ các tài khoản ngân hàng V số 1014110440 và tài khoản M2 số tài khoản 0070110035002, Cơ quan điều tra đã tiến hành ủy thác điều tra cho Công an huyện K, tỉnh Thái Bình tiến hành xác minh làm việc nhưng Mai Cao T2 không có mặt tại địa phương. Bên cạnh đó, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh thông tin chủ thuê bao số điện thoại 0329.254.xxx được sử dụng để đăng ký trong 2 hồ sơ mở tài khoản mang tên Mai Cao T2 tại Tập đoàn V3 nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được và chưa đủ thông tin, cơ sở để xác định đối tượng có phải là người đang quản lý tài khoản và thực hiện các hành vi nhận, chuyển tiền trong các tài khoản ngân hàng trên hay không. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm người đối với Mai Cao T2 và sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định.
- Đối với đối tượng Lê Hoàng A (Sinh năm 1995, trú tại D K, C, B, Hà Nội) là người đứng tên chủ tài khoản ngân hàng V có số tài khoản 106872390951, Cơ quan điều tra đã tiến hành ủy thác điều tra cho Công an quận B, thành phố Hà Nội tiến hành xác minh làm việc nhưng Lê Hoàng A không có mặt tại địa phương. Bên cạnh đó, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh thông tin chủ thuê bao số điện thoại 0346.581.xxx được sử dụng để đăng ký trong hồ sơ mở tài khoản ngân hàng tại Tập đoàn V3 nhưng chưa có kết quả trả lời nên Cơ quan điều tra chưa thể làm việc được và chưa đủ thông tin, cơ sở để xác định đối tượng có phải là người đang quản lý tài khoản, thực hiện hành vi nhận, chuyển tiền trong các tài khoản ngân hàng trên hay không. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm người đối với Lê Hoàng A và sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định.
- Đối với anh Trần Đại T3, chủ quán I đã cho Lê Văn B thuê máy tính có kết nối mạng internet để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, anh T3 không biết việc B sử dụng máy tính để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nên không chịu trách trách nhiệm hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn B và bị cáo Hồ Minh Q phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 290; khoản 1, 3 Điều 17; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn B 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Văn B cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo Lê Văn B thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 290; khoản 1, 3 Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 56, Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hồ Minh Q 05 (năm) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 14 tháng tù tại Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, buộc bị cáo Hồ Minh Q chấp hành hình phạt chung là 19 (mười chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 03/5/2024 và được trừ đi thời gian tạm giam từ 20/7/2023 đến ngày 16/12/2023.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 điểm Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Lê Văn B và Hồ Minh Q, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Lê Phương Thảo |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự (sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Bão và bị cáo Hồ Minh Quân phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
