|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/HS-ST Ngày 29/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Trần Đức Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Ngọc.
Bà Trần Thị Thu Thủy.
- Thư ký phiên tòa: bà Bùi Thị Huyền Thương, là Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Giang Nam, là Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 19/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, đối với:
- Bị cáo: Đặng Văn P, sinh ngày 14 tháng 5 năm 1997 tại huyện L, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: thôn 3, xã M, huyện L, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T và bà Đặng Thị H; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 09 tháng 3 năm 2024, chuyển tạm giam ngày 12 tháng 3 năm 2024; có mặt.
- Người chứng kiến:
- Ông Lê Văn L, vắng mặt.
- Ông Trần Văn V, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 09 tháng 3 năm 2024, bị cáo Đặng Văn P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki biển số 29T2-0105 đi từ nhà đến khu vực Sân vận động T thành phố N gặp một người đàn ông tên N (không rõ tuổi, địa chỉ cụ thể) hỏi mua ma túy đá để sử dụng. Bị cáo đưa cho N 300.000 đồng, N nhận tiền và đưa cho bị cáo một túi nilong màu trắng bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng cục màu trắng (bị cáo khai là ma túy), bị cáo cầm túi ma túy đó cất vào túi quần bên trái phía trước rồi đi về tìm chỗ sử dụng. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi bị cáo đi đến đoạn đường thuộc thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Nam Định thì bị tổ công tác Công an huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định phát hiện, bắt quả tang bị cáo đang cất giữ trái phép một túi nilon ma túy nên đã đưa bị cáo về trụ sở Công an huyện Mỹ Lộc lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong toàn bộ vật chứng là một túi nilong màu trắng bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng cục màu trắng và một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki biển số 29T2-0105.
Tại bản Kết luận giám định số 581/KL-KTHS ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể trắng trong một túi ni lông màu trắng, trong phong bì thư được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: methamphetamine. Khối lượng mẫu: 0,256 gam.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki biển số 29T2-0105, chiếc xe này bị cáo mượn của bố mình là ông Đặng Văn T. Ông To đã mua của anh Đỗ Tất T ở Thanh Xuân, Hà Nội từ năm 2011, khi mua không có giấy tờ mua bán, chỉ có đăng ký xe mang tên Đỗ Tất T, nơi ĐKNK thường trú: E218 F316 QCPKKQ Nhân Chính, Thanh Xuân, đăng ký ngày 24 tháng 3 năm 2004, xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Lộc đã ủy thác điều tra đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội để xác minh, ghi lời khai người tên Đỗ Tất T có địa chỉ như trên nhưng không xác định được người tên Đỗ Tất T nên đã tách ra để xử lý sau.
Đối với người đàn ông tên N bán ma túy cho bị cáo P, do không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Lộc không có căn cứ điều tra xử lý.
Bản cáo trạng số 22/CT-VKS-ML ngày 13 tháng 5 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Đặng Văn P về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo P khai nhận việc cất giữ ma túy trong người để sử dụng là vi phạm pháp luật. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo P từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy số lượng ma túy đã thu giữ.
Bị cáo nói lời sau cùng là bị cáo còn bố mẹ già mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án để tái hòa nhập cộng đồng, phụng dưỡng bố mẹ già, trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Lộc, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo P không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Đối với người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo P: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định chất ma túy cũng như toàn bộ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Từ các tình tiết, chứng cứ nêu trên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 09 tháng 3 năm 2024 tại khu vực thuộc thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Nam Định bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,256 gam methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng mà Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc truy tố là có căn cứ.
[3] Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Tệ nạn ma túy là hiểm họa của nhân loại bị xã hội lên án và loại trừ. Việc sử dụng trái phép chất ma túy gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Hành vi tàng trữ trái phép 0,256 gam chất ma túy methamphetamine là xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ, đó là sức khỏe, tính mạng của con người trước những tác hại của ma túy và quyền quản lý độc quyền về các chất ma túy của Nhà nước.
[4] Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội lần đầu; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã có thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự nên được xem là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ nhận định trên, cân nhắc tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, khối lượng ma túy, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thì cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, mục đích tàng trữ ma túy chỉ để nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, không có mục đích mua bán kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy được thu giữ sau khi được giám định là methamphetamine vật cấm tàng trữ, lưu hành căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu và tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn P phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 3 năm 2024.
-
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ (được niêm phong trong một phong bì thư có đặc điểm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa Công an huyện Mỹ Lộc và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định).
-
Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Đặng Văn P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
-
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Đặng Văn P có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án quy định tại Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Trần Đức Cường |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo: Đặng Văn P, sinh ngày 14 tháng 5 năm 1997 tại huyện L, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: thôn 3, xã M, huyện L, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
