Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN IA GRAI

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HS-ST

Ngày: 29-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI -TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Quang Hà.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mý và ông Nguyễn Như Quang.
  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm, Thư ký Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Trung, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2024/TLST-HS, ngày 02/04/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HS, ngày 02/5/2024 đối với bị cáo:

Bùi Văn L

(tên gọi khác: Không), sinh năm 1990 tại tỉnh Yên Bái;

Nơi cư trú: Thôn B, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum.

Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn Q và bà Nguyễn Thị Thanh T; bị cáo có vợ là Quản Thị Mỹ T1, sinh năm 1990 (đã ly hôn), bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013.

Tiền sự: Không;

Tiền án: 01 tiền án. Ngày 10/9/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong hình phạt và án phí hình sự sơ thẩm.

Nhân thân:

  • - Ngày 10/3/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”.
  • - Ngày 30/01/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1957

Địa chỉ: Thôn B, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.

Người chứng kiến:

Ông Lê Văn H, sinh năm 1976; địa chỉ: Làng D, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 23/12/2023 Bùi Văn L thuê xe ô tô dịch vụ đi từ làng D, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai qua đến khu vực xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum và gặp một người tên H1 (chưa xác định được nhân thân và lai lịch) mua của người này 01 gói ma túy với giá 3.500.000 đồng, sau khi mua xong L đi về lại làng D, xã I, khi đang đi bộ để về phòng trọ tại đây thì bị lực lượng Bộ đội Biên phòng thuộc Đồn Biên phòng I phối hợp cùng Công an huyện I yêu cầu kiểm tra thì phát hiện trên người L đang giấu 01 gói ni lông quấn băng keo đen, bên trong có gói ni lông có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. L khai là ma túy đá nên Đồn Biên phòng I và Công an huyện đã lập biên bản phạm tội quả tang đối với L cùng tang vật.

Tại bản Kết luận giám định số 43/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của phòng K Công an tỉnh G kết luận: Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon (được quấn bằng băng keo màu đen) trong bì thư (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) là ma túy, loại methamphetamine, khối lượng 4,2564 gam.

Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKS, ngày 01 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Bùi Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy “ theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy “.
  • - Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
  • Xử phạt bị cáo Bùi Văn L từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Văn L
  • - Về xử lý vật chứng:
  • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì C Công an tỉnh G, mặt trước có dòng chữ “Số 43/PC09 ngày 26 tháng 12 năm 2023”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng các dấu tròn của Phòng kĩ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ kí, chữ viết của ông Nguyễn Văn L1, Nguyễn Minh T2, Bùi Sĩ T3;
  • + Trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10, màu đen.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện I, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và tội danh: Xét tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, vì vậy có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn L như sau: Vì nghiện ma túy nên vào ngày 23/12/2023 Bùi Văn L đã đi mua ma túy về để sử dụng, khi đang mang ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 4,2564 gam về đến làng D, xã I, huyện I thì bị phát hiện bắt giữ cùng với tang vật. Vì vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo Bùi Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Bùi Văn L là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Chất ma túy là chất gây nghiện, có tính chất kích thích thần kinh, việc tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không những gây tác hại lớn đến sức khỏe con người, đặc biệt là người chưa thành niên, mà còn là nguyên nhân gây phát sinh các loại tệ nạn khác trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo Bùi Văn L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức được hành vi của mình.

[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Bùi Văn L có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 10/3/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo về tội “ Cố ý gây thương tích”. Ngày 30/01/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 10/9/2020 bị cáo Bùi Văn L bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 24 tháng từ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn L đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự nên phải chịu hình phạt theo quy định. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là phù hợp, đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Đối với đối tượng tên H1 đã bán ma túy cho bị cáo L, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Khi nào xác định được xử lý sau nên không đề cập.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì C Công an tỉnh G, mặt trước có dòng chữ “Số 43/PC09 ngày 26 tháng 12 năm 2023”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng các dấu tròn của Phòng kĩ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ kí, chữ viết của ông Nguyễn Văn L1, Nguyễn Minh T2, Bùi Sĩ T3;
  • + Trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10, màu đen là điện thoại bị cáo L đã mượn của bà T và không sử dụng vào việc phạm tội.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 04 ( Bốn ) năm tù. Thời tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/12/2023).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì C Công an tỉnh G, mặt trước có dòng chữ “Số 43/PC09 ngày 26 tháng 12 năm 2023”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng các dấu tròn của Phòng kĩ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ kí, chữ viết của ông Nguyễn Văn L1, Nguyễn Minh T2, Bùi Sĩ T3.
  • Trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10, màu đen.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án,

Buộc bị cáo Bùi Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án ( ngày 29/5/2024) bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND H. Ia Grai;
  • - Công an H. Ia Grai;
  • - Chi cục THADS H.Ia Grai (khi án có hiệu lực);
  • - Bộ phận nghiệp vụ Công an H. Ia Grai;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Quang Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI - TỈNH GIA LAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 20/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI - TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TP. Hà
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger