|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/HS-ST Ngày: 25/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Tấn Trung.
Ông Nguyễn Công Huy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Chức - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh và điểm cầu thành phần: Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh mở phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn T, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1994 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn B và bà Lê Thị L; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 24/3/2023, Nguyễn Tấn T bị Công an xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17/QĐ-XPHC ngày 24/3/2023 của Công an xã T). Ngày 30/3/2023, Nguyễn Tấn T đã chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.
- Bị hại:
1. Bà Tôn Thị T1, sinh năm 1969.
Nơi cư trú: Đội 15, thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn xin vắng mặt.
2. Anh Trần Đình T2, sinh năm 1994.
Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Phan Cao T3, sinh năm 1995.
Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn xin vắng mặt.
2. Anh Phan Thanh L1, sinh năm 2003.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 22/02/2024, Nguyễn Tấn T đi bộ từ nhà ngoại của T ở thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, theo đường bê tông liên thôn đến thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Khi đi đến đoạn đường gần đường ray xe lửa, Nguyễn Tấn T quan sát thấy nhà bà Tôn Thị T1 không có người trong nhà nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà bà T1 để trộm cắp tài sản. Nguyễn Tấn T đi vòng ra phía sau nhà bà T1, quan sát xung quanh không có người, T lén lút trèo qua tường rào lưới B40 đi vào bên trong khuôn viên nhà bà T1. Nguyễn Tấn T trèo lên chiếc máy giặt để gần cửa sau của nhà bếp rồi leo qua lỗ thông gió đột nhập vào bên trong nhà bếp. Khi vào được bên trong nhà, Nguyễn Tấn T mở cửa buồng ngủ đi vào bên trong tìm kiếm tài sản thì phát hiện 01 (một) hủ heo bằng đất nung, màu vàng để trên tủ quần áo. T lấy hủ heo đất để xuống nền nhà rồi tiếp tục tìm kiếm thì thấy 01 (một) điện thoại di động APPO A3S, màu đỏ, để ở trên giỏ đựng quần áo, T lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần, rồi quay lại lấy hủ heo đất đi ra hướng cửa trước của nhà bếp. Sau khi ra ngoài, T đập hủ heo đất vừa trộm được và kiểm tra bên trong có nhiều tờ tiền có nhiều mệnh giá khác nhau. Nguyễn Tấn T kiểm đếm được tổng số tiền có trong hủ heo đất là 1.650.000 đồng, T bỏ số tiền trên vào trong túi quần rồi trèo qua tường rào lưới B40 tẩu thoát ra ngoài. Sau đó, Nguyễn Tấn T đi về lại nhà ngoại ở thôn H, đến khoảng 18 giờ cùng ngày T đến nhà nghỉ H ở xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, thuê phòng và ngủ tại đây.
Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 23/02/2024, Nguyễn Tấn T gọi điện thoại cho Phan Thanh L1 (là bạn bè quen biết ngoài xã hội) đến nhà nghỉ Hoàng T4 chở T về nhà ngoại ở thôn H. T đưa chiếc điện thoại đã trộm cắp của bà T1 cho L1, nhờ L1 giữ dùm. L1 cầm chiếc điện thoại và chở T về nhà ngoại của T ở thôn H. Đến trưa ngày 23/02/2024 cơ quan Công an mời T về trụ sở để làm việc. Qua làm việc T đã khai nhận toàn bộ sự việc.
Qua điều tra T khai nhận trước đó vào ngày 07/02/2024, T có trộm cắp 01 (một) điện thoại di động IPHONE 11, màu xám đen của Trần Đình T2, cụ thể:
Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 07/02/2024, sau khi đi chơi về, T đi về nhà ngoại ở thôn H. Khi đi đến đoạn đường cổng chào thôn H, T phát hiện quán hớt tóc của anh Trần Đình T2 không đóng cửa nên T nảy sinh ý định đột nhập vào bên trong quán hớt tóc của T2 để trộm cắp tài sản. T quan sát thấy T2 đang ngủ say nên lén lút đi vào bên trong quán hớt tóc thì thấy 01 (một) điện thoại di động IPHONE 11 của T2 đang để ở gần chỗ ngủ. T lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần rồi đi về nhà ngoại ở thôn H. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T điện thoại cho Phan Cao T3 để bán với giá 3.500.000 đồng. Phan Cao T3 đồng ý mua nhưng vì chưa đủ tiền nên T3 đưa cho T số tiền là 1.000.000 đồng và đem chiếc điện thoại này về sử dụng. T đã sử dụng hết số tiền trên vào mục đích tiêu xài cá nhân.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 13/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện S kết luận: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu APPO A3S, màu đỏ, bên trong không gắn thẻ sim, số kiểu máy: CPH1853; số sêri: 744dd98f có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại (ngày 22/02/2024) là 700.000 đồng; 01 (một) hủ heo đất, màu vàng, dài 22cm, cao 12cm, rộng 14cm có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại (ngày 22/02/2024) là 28.500 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐG, ngày 13/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện S kết luận: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 11, màu xám đen, kiểu máy: DNPZTD8EN72J, bên trong không gắn thẻ sim có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại (ngày 07/02/2024) là 5.000.000 đồng.
Tại cáo trạng số 17/CT-VKSST ngày 25/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị can Nguyễn Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T từ 06 tháng đến 12 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong nên không xem xét.
Về phần dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét.
Về án phí: Tuyên bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định của pháp luật.
[2] Bị hại bà Tôn Thị T1, anh Trần Đình T2; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phan Cao T3, anh Phan Thanh L1 vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Tấn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định:
Vào khoảng 04 giờ 00 phút ngày 07/02/2024, bị cáo T đã lén lút, đột nhập vào quán hớt tóc của anh Trần Đình T2 trộm cắp 01 điện thoại di động, màu xám đen, nhãn hiệu IPHONE 11, bên trong không gắn thẻ sim (đã qua sử dụng), có giá trị 5.000.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 22/02/2024, bị cáo T tiếp tục lén lút đột nhập vào nhà bà Tôn Thị T1 trộm cắp 01 hủ heo bằng đất nung màu vàng có giá trị 28.500 đồng, bên trong hủ heo có số tiền 1.650.000 đồng và 01 điện thoại di động, màu đỏ, nhãn hiệu APPO A3S, bên trong không gắn thẻ sim (đã qua sử dụng), có giá trị 700.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo T đã chiếm đoạt của anh Trần Đình T2, bà Tôn Thị T1 trong ngày 07/02/2024 và ngày 22/02/2024 là 7.378.500 đồng. Với hành vi nêu trên, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương nên cần phải được xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này.
[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Trong các ngày 07/02/2024 và 22/02/2024 bị cáo đã thực hiện hai lần trộm cắp tài sản, mỗi lần trộm cắp tài sản có trị giá đều trên 2.000.000 đồng là trường hợp phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- Bà Tôn Thị T1 đã nhận lại 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu APPO A3S, màu đỏ; 01 (một) hủ heo đất, màu vàng, dài 22cm, cao 12cm, rộng 14cm bị bể phần đuôi do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S trả lại và 1.650.000 đồng (một triệu sáu trăm năm mươi ngàn) do bị cáo bồi thường, khắc phục. Bà T1 không có yêu cầu gì khác về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Anh Trần Đình T2 đã nhận lại 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 11, màu xám đen. Anh T2 không có yêu cầu gì khác về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Bị cáo T đã bồi thường cho anh Phan Cao T3 1.000.000 đồng. Anh T3 không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng:
Các tài sản Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ được, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét, gồm: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu APPO A3S, màu đỏ và 01 (một) hủ heo đất, màu vàng, dài 22cm, cao 12cm, rộng 14cm bị bể phần đuôi đã trả lại cho bà Tôn Thị T1; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 11, màu xám đen đã trả lại cho anh Trần Đình T2.
[8] Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Phan Thanh L1 không biết chiếc điện thoại APPO A3S mà bị cáo T nhờ giữ dùm là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có. Khi Cơ quan Công an mời L1 làm việc thì L1 mới biết chiếc điện thoại L1 giữ dùm là tài sản do bị cáo T trộm cắp. Do đó, L1 không vi phạm pháp luật, không bị xử lý.
Anh Phan Cao T3 mua lại điện thoại di động hiệu IPHONE 11 mà bị cáo T bán với giá 3.500.000 đồng, vì T3 chưa đủ tiền nên T3 đưa trước cho T số tiền 1.000.000 đồng nhưng T3 không biết nguồn gốc điện thoại này là do bị cáo T trộm cắp mà có. Do đó, T3 không vi phạm pháp luật, không bị xử lý.
[9] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Tuy nhiên, đối với đề nghị của Kiểm sát viên về phần hình phạt thì không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tấn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Tân |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn Tài phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn Tài 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
