|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/HS-ST Ngày 19 - 7 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Hoà
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Thanh Nghệ và bà Trần Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thượng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử 1, Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLST-HS, ngày 17 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Hồng B (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 06 tháng 7 năm 19xx, tại thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ x, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Chí T (Phạm Văn B1) và bà Đỗ Thị T1 (Đều đã chết), vợ, con: Chưa có; tiền án: 01; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 11/HSST ngày 25/5/1999 của Tòa án nhân dân thị xã B xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; Bản án số 03/HSST ngày 07/02/2002 của Tòa án nhân dân thị xã B xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 08/2006/HSST ngày 21/02/2006 của Tòa án nhân dân thị xã B xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Ngày 09/01/2014, Công an huyện N ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc bằng Quyết định số: 11/QĐ-XPHC ngày 09/01/2014. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/3/2024 đến ngày 04/4/2024, tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 15 giờ 20 phút ngày 28/3/2024, tại đường Quốc lộ 3B (QL 3B) thuộc thôn P, xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Công an huyện N đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự thì phát hiện bắt quả tang Phạm Hồng B đang đi bộ trên đường theo hướng xã S đi thị trấn Y có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ, tạm giữ trong túi quần phía trước bên phải B đang mặc trên người là 02 gói giấy màu trắng (Loại giấy vệ sinh), bên trong gói thứ nhất có 01 gói giấy một mặt màu bạc, một mặt màu trắng (Loại giấy trong vỏ bao thuốc lá) có chứa chất màu trắng dạng cục lẫn bột; bên trong gói còn lại có 01 gói giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng (Loại giấy trong vỏ bao thuốc lá) có chứa chất màu trắng dạng cục lẫn bột. Tổ công tác trích một lượng nhỏ chất màu trắng dạng cục lẫn bột trong hai gói nhỏ để thử với thuốc thử ma túy do Bộ Công an cấp, kết quả xác định là ma túy (Heroine). Tổ công tác đã gói lại 02 gói trên như ban đầu và niêm phong trong phong bì kí hiệu A1.
Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 28/3/2024 đối với Phạm Hồng B có kết quả xét nghiệm: Dương Tính với Hêrôin.
Ngày 28/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành mở niêm phong phong bì ký hiệu A1 và cân xác định khối lượng số chất màu trắng dạng cục lẫn bột thu được trên người Phạm Hồng B. Kết quả số chất màu trắng dạng cục lẫn bột trong phong bì kí hiệu A1 có khối lượng là 0,668g. Sau đó tiến hành niêm phong trong phong bì có kí hiệu là B1 để gửi giám định theo quyết định trưng cầu giám định số 112/QĐ-ĐCSHS,KTMT ngày 29/3/2024. Số vật chứng còn lại gồm 02 tờ giấy màu trắng, 01 tờ giấy một mặt màu bạc một mặt màu trắng, 01 tờ giấy một màu vàng một mặt màu trắng, 01 phong bì ký hiệu A1 đã mở niêm phong được cho vào 01 phong bì mới niêm phong ký hiệu B2.
Hồi 19 giờ 40 phút, ngày 28/3/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp số 46/LKX-ĐCSHC-KT-MT ngày 28/3/2024 đối với chỗ ở và công trình phụ cận có liên quan của Phạm Hồng B tại tổ x, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Kết luận giám định số 120/KL-KTHS ngày 03/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận:
- - Mẫu chất màu trắng dạng cục lẫn bột trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin) có khối lượng là: 0,668g. Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại: 0,610g cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T74 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.
Về ngồn gốc số ma túy bị thu giữ ngày 28/3/2024, Phạm Hồng B khai nhận: Sáng ngày 28/3/2024, B đang làm tự do tại thị trấn Y, huyện N rồi đi xe ô tô khách về nhà tại tổ x, phường Đ, thành phố B. Đến buổi trưa cùng ngày B đi bộ từ nhà B sang nhà Đào Xuân C cùng tổ x để tìm hỏi mua ma túy, vì B biết C là người sử dụng ma túy; đi được một đoạn thì gặp C ở đường nên hỏi mua ma túy với C số tiền là 1.000.000 đồng và được C bán cho 01 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy thì B về nhà. Đến khoảng 12 giờ 30 phút thì B đi xe ô tô khách vào huyện N để đi làm. Khi ngồi chờ trên xe ô tô khách, B chia số ma túy mua được của C thành 02 gói nhỏ và cất số ma túy này vào túi quần đang mặc trên người. Khi xe ô tô khách đến thôn P, xã S thì B xuống xe ô tô đi bộ đến chỗ làm; khi xuống xe ô tô đi được một đoạn thì bị tổ công tác Công an huyện N kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy đã mua.
Hồi 17 giờ 30 phút, ngày 28/3/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp số 45/LKX-HS-KT,MT ngày 28/3/2024 đối với người, chỗ ở và công trình phụ cận có liên quan của Đào Xuân C tại tổ x, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả khám xét phát hiện tạm giữ số tiền 2.400.000 đồng trên người C.
Tại Cơ quan điều tra, Đào Xuân C trình bày: Giữa C và B có quan hệ họ hàng. Ngày 28/3/2024, C và người thân đi dự đám cưới từ sáng đến 17 giờ cùng ngày mới về nhà nên trong ngày 28/3/2024, C không gặp B; không được bán ma túy với B. Số tiền 2.400.000 đồng bị cơ quan điều tra tạm giữ khi khám xét là tiền của ông Đào Xuân L là cha của C đưa cho C cầm giúp. Ông Đào Xuân L xác nhận ngày 28/3/2024 cùng C đi đám cưới, đến 17 giờ về đến nhà có được đưa số tiền này cho C cầm giúp. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho C và B đối chất nhưng không làm rõ được hành vi bán ma túy của C.
Quá trình điều tra, bị can Phạm Hồng B khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đúng như các tài liệu, chứng cứ có hồ sơ vụ án. Số ma túy bị thu giữ ngày 28/3/2024 là của B mua về để sử dụng cho bản thân. Bản thân B đang có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy; tiền sự không. B có cha đẻ là ông Phạm Chí T (Tên gọi khác: Phạm Văn B1) được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất và mẹ là Đỗ Thị T1 là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.
Về vật chứng của vụ án, bao gồm:
- - 01 (Một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu B2, bên trong có giấy gói, phong bì đã mở niêm phong.
- - 01( một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu T74, bên trong có 0,610g ma túy (Heroine) cùng phong bì, bao gói cũ.
(Các vật chứng hiện đang tạm giữ và được bảo quản theo quy định)
Đối với số tiền 2.400.000 đồng tạm giữ của Đào Xuân C, qua điều tra xác định số tiền tạm giữ trên không liên quan đến hành vi phạm tội và là tài sản hợp pháp của ông Đào Xuân L, sinh năm 19xx, trú tại tổ x, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trả lại số tiền 2.400.000 đồng cho anh Đào Xuân C theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu lập ngày 07/5/2024 là có căn cứ nên không xem xét giải quyết.
Tại bản cáo trạng số: 22/CT-VKSNR ngày 14/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn, truy tố bị cáo Phạm Hồng B về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi, động cơ, mục đích phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện Kiểm sát đã truy tố. Ngoài ra bị cáo còn khai nhận. Do nghiện ma túy nên đã tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân chứ không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất ma túy. Ngoài số ma túy bị thu giữ, thì B không bị cơ quan chức năng tạm giữ đồ vật, tài sản gì khác. B cho biết bản thân là người nghiện ma túy; nghề nghiệp tự do, thu nhập thấp và không ổn định nên xin được miễn hình phạt bổ sung. Tại phiên tòa và lời nói sau cùng, B đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt; miễn hình phạt bổ sung bằng tiền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Phạm Hồng B phạm tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Phạm Hồng B từ 05 năm đến 06 năm tù và được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/3/2024 đến ngày 04/4/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo; về vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ 01 (Một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu B2; 01( một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu T74, bên trong có 0,610g ma túy cùng phong bì, bao gói cũ; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện N, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Bản thân bị cáo Phạm Hồng B là người nghiện ma túy nên đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân chứ không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã bị tổ công tác của Công an huyện N, phát hiện và lập biên bản phạm tội quả tang vào hồi 15 giờ 20 phút ngày 28/3/2024, tại đoạn đường QL3B thuộc thôn P, xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ trái phép là 0,668g ma túy, loại heroine.
Bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trên trong thời gian chưa được xóa án tích của bản án số 60/2014/HSST ngày 24/9/2014 của Tòa án nhân dân thị xã B (Nay là thành phố B). Tại bản án này đã xử phạt bị cáo 08 năm tù giam về tội “Tội mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm và hình phạt bổ sung là phạt tiền (5.000.000 đồng); Ngày 11/3/2021, bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 462/GCN ngày 11/3/2021 của Trại giam Quyết Tiến – Cục C10 và chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung theo biên bản làm việc lập ngày 01/4/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện N với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
Do vậy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 01 năm đến 05 năm.
...c) Heroin, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 05 năm đến 10 năm...
...o) Tái phạm nguy hiểm.
...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản;
[3] Về các tình tiết quyết định mức hình phạt:
[3.1] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Phạm Hồng B đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương.
[3.2] Về nhân thân: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Ngày 25/5/1999 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thị xã B xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Tội trộm cắp tài sản của công dân” bằng bản án số 11/HSST; ngày 07/02/2002, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thị xã B xử phạt 36 tháng tù giam về tội “Tội trộm cắp tài sản” bằng bản án số 03/HSST; ngày 21/02/2006, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thị xã B xử phạt 08 năm tù giam về tội “Tội mua bán trái phép chất ma túy” bằng bản án số 08/2006/HSST. Ngày 09/01/2014, bị cáo đã bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính bằng Quyết định số 11/QĐ-XPHC về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự an toàn xã hội với hình thức phạt tiền. Tiền sự: Không. Với nhân thân trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần cân nhắc khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
[3.3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có cha là Phạm Chí T được Chủ tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước theo Quyết định số 83 KT/CTN ngày 12/12/1997 và có mẹ là Đỗ Thị T1 được Ban liên lạc bạn chiến đấu mặt trận đường 9 – Quảng Trị - B5 tặng Kỷ niệm chương vì đã có thành tích tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu tại mặt trận đường 9 – Quảng Trị - B5 có số vào sổ Quyết định số 7946/B5-Đ9 – QT ngày 22/11/2012, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; kết quả tranh tụng tại phiên tòa và quy định của Bộ luật hình sự, HĐXX xét thấy: Cần áp dụng biện pháp cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tuy có tài sản là 01 thửa đất ở đô thị số 54, diện tích 56m² đã được cấp GCNQSDĐ và không thuộc hộ nghèo theo biên bản xác minh lập ngày 17/4/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện N với UBND phường Đ, nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định và đang bị bệnh HIV theo hồ sơ bệnh án số 1333 ngày 30/3/2024 của Trung tâm y tế huyện N, tỉnh Bắc Kạn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về vấn đề khác:
Đối với Đào Xuân C, qua điều tra không có đủ căn cứ chứng minh C là người đã bán ma túy cho Phạm Hồng B nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N không đủ cơ sở để điều tra xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - 01( một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu T74, bên trong có 0,610g ma túy (Heroine) cùng phong bì, bao gói cũ là vật Nhà nước cấm lưu hành và được giám định theo tô tụng hình sự cùng 01 (Một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu B2, bên trong có giấy gói, phong bì đã mở niêm phong là vật chứng của vụ án liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu tiêu hủy.
(Số lượng, hiện trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/6/2024 giữa Công an huyện Na Rì với Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Rì).
[6] Về án phí: Bị cáo không thuộc đối tượng được miễn giảm tiền án phí nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[8] Quan điểm truy tố, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các biện pháp tư pháp của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ các Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
[1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hồng B (Tên gọi khác: Không) phạm tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Phạm Hồng B 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án và được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/3/2024 đến ngày 04/4/2024.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Phạm Hồng B.
[2] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: 01( một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu T74, bên trong có 0,610g ma túy (Heroine) cùng phong bì, bao gói cũ và 01 (Một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu B2, bên trong có giấy gói, phong bì đã mở niêm phong.
(Số lượng, hiện trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/6/2024 giữa Công an huyện Na Rì với Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Rì).
[3] Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Hồng B phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã Ký) TRẦN QUANG HÒA |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
