|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 20/2024/HS-ST Ngày 24-04-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mạc Thị Chiên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Thanh;
- Ông Võ Văn Thành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tuấn Vũ – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Phát Tấn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân huyện C, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Vũ L, tên gọi khác: không; Sinh năm 1990, huyện C, tỉnh Hậu Giang; thường trú tại: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1967 (còn sống) và bà Trần Thị Ánh N, sinh năm 1970 (còn sống); anh chị em ruột: 02 người; bị cáo có vợ và đã ly hôn; có 01 người con lớn sinh năm 2011; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt. Bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Bà Huỳnh Thị O, sinh năm 1987, đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Trần Thị Ánh N, trú tại: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (có mặt)
- Nguyễn Vũ L1, sinh năm 1992, trú tại: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
- Phạm Văn M; (vắng mặt)
- Từ Thị Trúc L2; (vắng mặt)
- Nguyễn Ngọc A. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 10 năm 2019 (không xác định được ngày cụ thể), bị cáo Nguyễn Vũ L có nhu cầu vay vốn tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện C, Hậu Giang để có tiền mua lúa nhưng do đất của bị cáo L nằm phía sau đất của Nguyễn Vũ L1 (em ruột của bị cáo L). Do không có đường đi ra vào nên Ngân hàng không cho vay, nên bị cáo L thỏa thuận với L1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất số CT 126536; số vào sổ cấp GCN: CS01966; tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Nguyễn Vũ L, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; thửa đất số: 16; tờ bản đồ số: 37; diện tích: 6500,0m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 30/9/2019 cho Nguyễn Vũ L1 đứng tên để L1 vay vốn Ngân hàng. Bị cáo L chuyển nhượng cho L1 vào ngày 28 tháng 10 năm 2019. Sau khi chuyển nhượng đất cho L1, L1 đến Ngân hàng A2 Chi nhánh C vay tiền bằng hình thức thế chấp thửa đất nêu trên để vay số tiền 380.000.000 đồng, trong đó phần tiền của bị cáo L vay 200.000.000 đồng.
Đến khoảng tháng 12 năm 2020 (không xác định được ngày cụ thể), bị cáo Nguyễn Vũ L lên mạng xã hội Facebook thấy tài khoản tên “Nguyen Tuan" đăng thông tin làm giấy giả giá rẻ, nên bị cáo L tìm hiểu giấy giả giống giấy thật như thế nào. Sau đó bị cáo L dùng tài khoản Facebook tên “Nguyen lam” nhắn tin thông qua ứng dụng M1 vào tài khoản “Nguyen Tuan” để đặt làm 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả. Khi bị cáo L nhắn tin thì có người phụ nữ gọi điện thoại thông qua ứng dụng Messenger đến yêu cầu L cung cấp thông tin để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả. Do trước khi bị cáo L chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho L1, bị cáo L có sử dụng điện thoại chụp hình lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, nên bị cáo L gửi hình và các thông tin trên cho người làm giấy giả. Sau khi xem thông tin bị cáo L cung cấp thì người làm giấy giả đồng ý làm cho L 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả với giá tiền thỏa thuận 300.000 đồng. Đồng thời người làm giấy giả và bị cáo L thỏa thuận địa điểm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả tại thị trấn M, huyện C, Hậu Giang. Khoảng 07 ngày sau, bị cáo L nhận điện thoại từ người giao hàng nhanh. Lúc này, bị cáo L biết Giấy chứng nhận quyền sử sụng đất giả đã làm xong, L hẹn với người giao hàng giấy giả tại cầu X, thuộc thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Người giao hàng giao cho L một hộp giấy, bên trong có 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất L thuê làm giả. Sau đó L kiểm tra thanh toán số tiền 300.000 đồng rồi mang về cất để sử dụng.
Đến khoảng đầu tháng 3 năm 2021 (không xác định được ngày cụ thể) do cần tiền mua lúa kinh doanh, bị cáo L đã nảy sinh ý định sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để cố đất lấy tiền trả tiền mua lúa, bị cáo L gọi điện thoại cho anh Phạm Văn M là chồng của bà Huỳnh Thị O nói muốn cố 6.500m² đất thì anh M trả lời về bàn với bà O rồi cho L hay. Sau đó, bà O đồng ý và hẹn 02 ngày sau đến nhà bị cáo L để xem đất. Sau khi xem đất, đồng ý cố diện tích đất 6.500m² giá tiền 300.000.000đồng nhưng giao tiền cho L làm nhiều lần thì L đồng ý. Đến ngày 16 tháng 3 năm 2021, bà O điện thoại cho L hẹn đến nhà L để thỏa thuận việc cầm cố đất. Khi thỏa thuận xác lập hợp đồng cầm cố giữa bà O và bị cáo L có chị Từ Thị Chúc L3 và ông Nguyễn Văn T ký chứng kiến vào hợp đồng cầm cố. Bà O trực tiếp giao cho bị cáo L 100.000.000 đồng. Đồng thời bị cáo L phải giao giấy chứng nhận quyền sử dụng của thửa đất cố cho bà O cất giữ, L đồng ý và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho bà O cất giữ. Đến ngày 20 tháng 3 năm 2021, do cần tiền để trả tiền mua lúa nên bị cáo L gọi điện thoại cho bà O nói với bà O giao thêm 100.000.000 bà O đồng ý và hẹn L đến nhà bà lấy tiền, bị cáo L đến bà O, bà O giao cho L 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), L viết giấy nhận tiền vào phía sau hợp đồng cầm cố tài sản ngày 16 tháng 3 năm 2021. Đồng thời L thanh toán tiền lãi 100.000.000 đồng/4 ngày cho bà O 2.800.000 đồng.
Đến ngày 22 tháng 3 năm 2021, bị cáo L gọi điện thoại yêu cầu bà O giao thêm 50.000.000 đồng bà O đồng ý và hẹn L đến nhà để lấy tiền. L viết biên nhận tiền phía sau hợp đồng cầm cố tài sản. Bị cáo L thanh toán tiền lãi 200.000.000đồng cho bà O 2.800.000₫.
Đến ngày 23 tháng 3 năm 2021, bị cáo L tiếp tục gọi điện thoại cho bà O lấy thêm 50.000.000 đồng. Khi đến nhà bà O nhận 50.000.000đồng, bị cáo L viết giấy biên nhận cho bà O. Tổng số tiền bà O đã giao cho bị cáo L là 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng), đồng thời bị cáo L thanh toán tiền lãi của 250.000.000đ/1 ngày, số tiền lãi 1.750.000đ. Thời hạn hợp đồng cố đất là 03 năm.
Đến tháng 4 năm 2021, bà O đến nhà bị cáo L để lấy tiền lãi, do không có tiền thanh toán lãi cho bà O, bị cáo L có nói với bà Trần Thị Ánh N (mẹ ruột của bị cáo L) hay việc bị cáo L cầm cố đất cho bà O. Lúc này bà N thỏa thuận với bà O thuê lại diện tích đất L đã cố để bà N canh tác, bà O đồng ý cho bà N thuê 15.000.000 đồng/năm, nhưng bà N phải thanh toán trước tiền thuê đất một năm 15.000.000đồng và trả lãi 15.000.000đồng của số tiền 300.000.000đồng. Bị cáo L và bà N đồng ý thanh toán theo yêu cầu của bà O.
Đến tháng 6 năm 2021, bà O làm lại hợp đồng cố đất theo thỏa thuận, bị cáo L cùng bà O và bà N mang hợp đồng đến nhờ ông Nguyễn Ngọc A trưởng ấp T, xã T ký chứng kiến xác nhận. Trong thời gian thuê đất, bị cáo L đã thanh toán cho bà O được 02 năm với số tiền 30.000.000đồng. Đến năm thứ 3 thì bị cáo L không thanh toán, nên bà O đến gặp bị cáo L và gia đình thỏa thuận nếu không thanh toán tiền thuê đất, thì trả lại số tiền cố đất 300.000.000đồng cho O. Bị cáo L và bà N cam kết đến ngày 04/6/2023 sẽ trả đủ cho bà O. Nhưng khi đến hẹn bị cáo L và bà N không thanh toán mà tiếp tục hứa hẹn đến tháng 8 năm 2023 sẽ thanh toán, bà O không đồng ý, sau đó phát hiện sự việc trình báo đến cơ quan Công an huyện C (BL:185-206).
Căn cứ Kết luận giám định số: 651/KL-KTHS, ngày 31/8/2023 của Phòng kỹ thật hình sự Công an tỉnh H kết luận như sau:
Chữ ký mang tên Nguyễn Hoàng A1 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký của Nguyễn Hoàng A1 trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 không phải do cùng một người ký ra.
Hình dấu tròn trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với hình dấu tròn trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
Phôi “GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TẢI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT”, số: CT 126536 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A là giả (BL:29-30).
Tại Cáo trạng số 16/CT-VKS-HCTA ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A đã truy tố bị cáo Nguyễn Vũ L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 174 và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b, khoản 3, Điều 341 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Vũ L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; phân tích hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Đề nghị áp dụng điểm a, khoản 3 Điều 174, điểm b, khoản 3, Điều 341, điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 06 năm đến 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về vật chứng: 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích: 6500,0m², số CT 126536; số vào sổ cấp GCN: CS01966; thửa đất số: 16; tờ bản đồ số: 37, tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên giấy là Nguyễn Vũ L (giấy giả) do đó đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc bị phát hiện. Trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Vũ L đã khắc phục hậu quả cho bà Huỳnh Thị O số tiền 310.000.000đồng trong đó có 10.000.000đồng là tiền thuê lại đất. Bà O đã nhận đủ tiền không yêu cầu bồi thường thêm nên đề nghị không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Vũ L thừa nhận hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị hại Huỳnh Thị O không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm, đề nghị xét xử bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Việc khởi tố, điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố hình sự năm 2015. Vụ án đủ điều kiện để đưa ra xét xử.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt Nguyễn Vũ L1 và những người làm chứng. Tuy nhiên, những người này đã cung cấp đầy đủ lời khai, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến đường lối giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt đối với Nguyễn Vũ L1 và những người làm chứng.
[3] Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Vũ L thừa nhận hành vi bị cáo đã thực hiện. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, chứng minh được như sau:
[3.1] Với mục đích tư lợi cá nhân, bị cáo Nguyễn Vũ L lên mạng xã hội Facebook, thông qua ứng dụng Messenger, cung cấp thông tin cá nhân và các thông số về Giấy chứng nhận quyền sử đất mà bị cáo đã lưu lại điện thoại trước khi làm thủ tục chuyển nhượng cho Nguyễn Vũ L1 để đặt làm 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy giả). Giấy chứng nhận mang số CT 126536; số vào sổ cấp GCN: CS01966; thửa đất số: 16; tờ bản đồ số: 37; diện tích 6500,0m² mang tên Nguyễn Vũ L. Đến tháng 3 năm 2021, để có tiền phục vụ cho việc kinh doanh, bị cáo đã sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả liên hệ vợ chồng ông Phạm Văn M và bà Huỳnh Thị O đề nghị cầm cố diện tích đất 6500,0m² với số tiền 300.000.000đồng và cầm cố Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho bà Huỳnh Thị O cất giữ. Đến hết thời hạn thực hiện hợp đồng cầm cố, bị cáo không thực hiện như đã cam kết đồng thời bà O phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả nên đã trình báo đến cơ quan Công an.
[4] Về tội danh:
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, do muốn có tiền để kinh doanh, bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo đã thuê làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để tạo lòng tin với bị hại, cầm cố vay tiền nhằm chiếm đoạt. Bị cáo đã dùng giấy chứng nhận quyền sử đất giả để cầm cố cho bị hại vay được số tiền 300.000.000đồng.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác và xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo biết rõ hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nhằm chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 174 và điểm b, khoản 3, Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã bồi thường khắc phục thiệt hại cho bị hại; tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bà nội là thương binh, có bác ruột là liệt sĩ. Đây được xem xét là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi lượng hình, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[6] Tính chất, mức độ thực hiện hành vi và hình phạt đối với bị cáo: Với hành vi đưa ra thông tin giả, tạo lòng tin cho bị hại, nhằm chiếm đoạt tài sản của họ mặc dù bị cáo biết rõ đó là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham muốn có tiền để phục vụ mục đích cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội điều đó chứng tỏ rằng bị cáo coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1, Điều 54 của Bộ luật Hình sự hạ khung hình phạt, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đối với tội này nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình, làm lại từ đầu.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng trong vụ án: Đối với 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích: 6500,0m², số CT 126536; số vào sổ cấp GCN: CS01966; thửa đất số: 16; tờ bản đồ số: 37, tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là Nguyễn Vũ L (giám định là giấy giả) là công cụ phạm tội trong vụ án cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Đối với bà Trần Thị Ánh N, khi thuê lại đất của bà O để kéo dài thời hạn trả tiền cho bị cáo L nhưng bà N không biết bị cáo có sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giả nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là phù hợp.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A là có căn cứ, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vũ L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ vào Điều 268, Điều 269 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Áp dụng điểm a, khoản 3 Điều 174, điểm b, khoản 3, Điều 341, điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, khoản 1, Điều 54, Điều 55, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ L 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, hình phạt chung cho cả hai tội là 06 (năm) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích (giấy giả): 6500,0m², số CT 126536; số vào sổ cấp GCN: CS01966; thửa đất số: 16; tờ bản đồ số: 37, tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở là Nguyễn Vũ L.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH quy định về án phí lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Vũ L phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Nguyễn Vũ L1 được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mạc Thị Chiên |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 5 năm 06 tháng tù
