TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2024/HS-ST
Ngày: 20-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Chính
Bà Lê Thị Hường
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Nhân
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài – Kiểm sát viên.
Vào ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/HSST ngày 09 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T, Sinh ngày 22-4-1983, tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn H (Đã chết) và bà Võ Thị B (Đã chết); Vợ là Nguyễn Thị K, sinh năm 1985; Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2007.
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn L, Sinh ngày 10-6-1976, tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn H (Đã chết) và bà Võ Thị B (Đã chết); Vợ, con: Chưa.
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Ông Dương Thanh T1, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
2. Bà Phùng Thị L1, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
- Người làm chứng:
1. Ông Dương Thanh A, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
2. Ông Dương Thanh H1, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
3. Cháu Dương Thị Thanh N, sinh ngày 17/9/2010; Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
- Người đại diện theo pháp luật của cháu Dương Thị Thanh N: Ông Dương Thanh T1, sinh năm 1991 và bà Phùng Thị L1, sinh năm 1991 là cha mẹ ruột của cháu Dương Thị Thanh N (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 22-8-2023, anh Dương Thanh T1 điều khiển xe máy hiệu Exciter màu xanh, biển kiểm soát: 85D1-695.67 từ quán nhậu về nhà. Trên đường đi, anh T1 gặp Nguyễn Văn T điều khiển xe máy hiệu Sirius, màu xanh đi theo hướng ngược chiều thì giữa hai người xảy ra mâu thuẫn. T dùng tay phải tát vào má trái của anh T1 02 (hai) cái, sau đó được người dân đi đường can ngăn nên T và anh T1 đi về nhà.
Khi về đến nhà, vì vẫn còn bực tức, nên T đã qua nhà anh trai là Nguyễn Văn L nhờ L chở mình đi ra ngoài, nhưng không nói lý do, không nói đi đâu thì L đồng ý. Theo sự hướng dẫn của T, L điều khiển xe đạp điện của mình chở T đến nhà anh T1, thì T nói dừng lại. Tại nhà anh T1, T và L thấy chị Phùng Thị L1 (vợ anh T1) và anh Dương Thanh H1 (em trai anh T1) đang đứng trước nhà nói chuyện. T và L đi từ ruộng măng tây đến có lời lẽ dọa nạt, thì anh H1 bỏ chạy về nhà. Một lúc sau, anh T1 điều khiển xe máy chạy về nhà, khi vừa bước xuống xe thì giữa anh T1 và L xảy ra xô xát, L nhặt 01 cây tre tròn, dài 96cm, đường kính 2,1cm ở gần đó đến đánh vào lưng, bắp tay trái của anh T1. T thấy vậy nên lấy 01 cây tre tròn, dài 96cm, đường kính 2,5cm bằng hai tay đánh liên tiếp vào người anh T1, anh T1 không đánh lại mà quỳ, dùng hai tay ôm đầu để đỡ đòn. Chị L1 đến can ngăn thì bị T dùng cây tre đánh 01 (một) cái phía sau gáy khiến chị L1 ngã xuống. Quá trình đánh, T làm rơi cây tre nên đã nhặt 01 (một) thanh kim loại, hình hộp rỗng kích thước (76,2 x 6 x 3)cm ở trong sân nhà anh T1, còn L trên tay vẫn cầm cây tre và cả hai cùng đánh liên tiếp vào phía sau đầu, lưng của anh T1 gây ra thương tích cho anh T1. Khi đó chị L1 hô hoán kêu cứu, sau khi bị đánh anh T1 bò vào vườn măng tây để trốn, còn L và T đã ném hung khí tại hiện trường, bỏ đi về nhà.
Anh T1 nằm bất tỉnh ở vườn măng tây trong khuôn viên nhà. Sau đó, anh T1 và chị L1 được gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh N cấp cứu điều trị vết thương. Ngày 24-8-2023 chị L1 ra viện, ngày 29-8-2023 anh T1 ra viện.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 234/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 18-10-2023 kết luận: Tỷ lệ phần trăm thương tật đối với từng vết thương gây nên tại thời điểm giám định:
- Vết thương ngang chẩm trái sẹo liền tốt di động kích thước (3,5x0,4)cm (02%);
- Đỉnh chẩm trái có 02 vết thương sẹo liền tốt phẳng kích thước mỗi đường (5,5x0,6)cm (03%) và kích thước (3,2×0,6)cm (02%);
- Vết thương dọc trán xuống chân lông mày mắt trái sẹo liền tốt phẳng di động kích thước (4,5x0,2)cm (03%), ảnh hưởng thẩm mỹ;
- Lưng trái tương ứng khoang liên sườn XI, XII có vết xây xát da nền đỏ kích thước (1,5x0,2)cm (01%).
Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Thanh T1 tại thời điểm giám định là 11%. Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương đã qua điều trị nhận định do vật tày có cạnh gây nên.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 232/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 18-10-2023 kết luận: Vùng chẩm trái hết sưng nề không phát hiện dấu tích (00%). Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phùng Thị L1 tại thời điểm giám định là 00%, cơ chế hình thành vết thương: Vết thương đã qua điều trị nhận định do vật tày gây nên.
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng và không kêu oan, chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại Cáo trạng số 26/CT-VKS-HS ngày 08-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước đã truy tố Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn L về tội “ Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm đ khoản 2 (điểm a, i khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến của phiên tòa vẫn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn L, phạm tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo như sau:
Áp dụng: Điều 17, điểm đ khoản 2 (điểm a, i khoản 1) Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù.
Áp dụng: Điều 17, Điểm đ khoản 2 (điểm a, i khoản 1) Điều 134; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự theo quy định pháp luật:
Các bị cáo không trình bày tranh luận gì, xin lỗi bị hại.
Các bị hại không tranh luận gì, yêu cầu các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho các bị hại 40 triệu đồng trừ 10 triệu đồng đã đưa trước thì các bị cáo phải bồi thường thêm 30 triệu đồng và mong Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo
Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại hành về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xác định tội danh, khung hình phạt đối với các bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với chứng cứ, tài liệu thu thập tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận:
Đây là vụ án cố ý gây thương tích do Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn L thực hiện. Tối ngày 22/8/2023, giữa Nguyễn Văn T và anh Dương Thanh T1 có mâu thuẫn trong việc tham gia giao thông, nên vào khoảng 21 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn L đến nhà anh Dương Thanh T1 ở thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, sử dụng các hung khí gồm: 02 (hai) cây tre và 01 (một) thanh kim loại hình hộp rỗng đánh gây thương tích cho anh Dương Thanh T1 11%, chị Phùng Thị L1 00%.
Hành vi nêu trên của các bị cáo thuộc trường hợp có tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm, đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (Điểm a, i khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước là có căn cứ.
[3]. Đánh giá vai trò đồng phạm của các bị cáo như sau:
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trước khi phạm tội thì giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất, chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội. Nguyễn Văn T là người chủ động rủ Nguyễn Văn L đến nhà anh Dương Thanh T1 và cũng là người trực tiếp dùng cây tre, T2 đánh anh Dương Thanh T1, dùng cây tre đánh chị Phùng Thị L1. Còn Nguyễn Văn L mặc dù không có mâu thuẫn gì với anh Dương Thanh T1, khi thấy Nguyễn Văn T đánh anh Dương Thanh T1 đáng lẽ ra bị cáo Nguyễn Văn L phải ngăn cản mới đúng, nhưng Nguyễn Văn L không những không ngăn cản mà còn dùng cây tre đánh anh Dương Thanh T1 gây thương tích, nên quyết định hình phạt cần phải xử mức hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T cao hơn so với bị cáo Nguyễn Văn L.
[4]. Xác định nguyên nhân, lỗi, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Nguyên nhân các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội xuất phát việc mâu thuẫn trong tham gia giao thông mà các bị cáo đến nhà anh Dương Thanh T1 dùng hung khí gây thương tích cho anh Dương Thanh T1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%, chứng tỏ các bị cáo mong muốn có hậu quả đó xảy ra. Vì vậy hành vi phạm tội của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý; Tội phạm mà các bị cáo thực hiện quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Xem xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
[5.1]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[5.2]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có chung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại; tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Ngoài ra cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo đó là các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, các bị cáo phạm tội lần đầu, gia đình có công cách mạng, lí lịch rõ ràng, vợ bị cáo Nguyễn Văn T là bà Nguyễn Thị K đang bị bệnh (Hở van tim 02 lá, thận trái ứ nước độ I).
[6]. Quyết định hình phạt chính đối với các bị cáo: Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong tham gia giao thông mà các bị cáo dùng cây tre và thanh sắt là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh Dương Thanh T1 với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 11%, hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện có tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo ý thức chấp hành pháp luật, các quy tắc của cuộc sống, đồng thời có tác dụng đấu tranh và phòng chống tội phạm. Nhưng các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên khi quyết định mức hình phạt cho các bị cáo, thì áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xem xét quyết định mức hình phạt cho phù hợp. Xét tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, hậu quả và nhân thân các bị cáo; Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Văn T ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng đấu tranh và phòng chống tội phạm, đối với bị cáo Nguyễn Văn L chỉ tham gia phạm tội với vai trò thứ yếu, hơn nữa giữa Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn T là anh em ruột với nhau, vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội sau này và cũng thể hiện sự nhân đạo của pháp luật, vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 100 Bộ luật Hình Sự cho bị cáo Nguyễn Văn L.
[7]. Xử lý vật chứng:
[7.1]. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) cây tre có độ dài 96cm; đường kính 2.5cm, phần thân tre dính 03 (Ba) chất bẩn màu nâu, có hình dạng và kích thước khác nhau. Phần đầu cây tre có gắn sợi dây cước màu trắng. Được niên phong bằng hình thức dán giấy, bên ngoài có dấu mộc của Công an xã A và chữ ký của ông Võ Tuấn C và ông Nguyễn Văn T;
- 01 (Một) cây tre có độ dài 96cm; đường kính 2.1cm, phần thân tre dính 03 (Ba) chất bẩn màu nâu, có hình dạng và kích thước khác nhau. Được niêm phong bằng hình thức dán giấy, bên ngoài có dấu mộc của Công an xã A, chữ ký của ông Võ Tuấn C, Nguyễn Văn T và hai dấu vân tay ngón trỏ trái, ngón trỏ phải của Nguyễn Văn L;
- 01 (Một) thanh kim loại hình hộp rỗng, kích thước (76,2x06x03)cm, hai bề mặt có vết rỉ sét, mặt ngoài thanh kim loại dính chất dịch màu nâu đỏ đã khô. Được niêm phong bằng hình thức sử dụng giấy A4 màu trắng bọc bên ngoài, mặt ngoài giấy có chữ ký của ông Võ Tuấn C, Tống Ngọc S, Dương Thanh A.
[7.2]. Trả lại cho Nguyễn Văn L 01 (Một) xe đạp điện màu xanh, số sườn APLM000582, đã qua sử dụng.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người bị hại yêu cầu các bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại tiếp số tiền là 30.000.000 đồng. Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường số tiền 30.000.000 đồng theo yêu cầu của người bị hại, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với số tiền 30.000.000đ bà Nguyễn Thị K là vợ bị cáo cáo Nguyễn Văn T và chị dâu của bị cáo Nguyễn Văn L đã thay các bị cáo khắc phục tại cơ quan thi hành hành án dân sự huyện N, không yêu cầu các bị cáo phải hoàn lại số tiền trên, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[9]. Về các vấn đề khác: Đối với các yêu cầu bồi thường 01 đồng hồ đeo tay bị vỡ trong quá trình xô xát; 08 con gà, loại 02kg bị mất khi anh T1 đi điều trị thương tích của anh Dương Thanh T1; 01 sợi dây chuyền vàng mua vào tháng 06/2022 với giá 6.500.000 đồng của chị Phùng Thị L1 bị mất lúc xảy ra xô xát: Ngoài lời khai của anh T1, chị L1 không có các chứng cứ nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ để xử lý hành vi của T, L gây thiệt hại cho gia đình anh T1 số tài sản trên là có căn cứ, đúng theo quy định pháp luật và tại phiên tòa người bị hại đồng ý không yêu cầu đối với số tài sản trên, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[10]. Về án phí: Các bị cáo có nghĩa vụ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ Điều 17, Điểm đ khoản 2 (điểm a, i khoản 1) Điều 134; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 11 (Mười một) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 18-3-2024.
2. Căn cứ Điều 17, Điểm đ khoản 2 (điểm a, i khoản 1) Điều 134; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 100 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn L có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận trong việc giám sát giáo dục bị cáo Nguyễn Văn L.
Do bị cáo Nguyễn Văn L nghề nghiệp làm thuê, thu nhập không ổn định, nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Văn L.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo Nguyễn Văn L phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tuyên tịch thu, tiêu hủy vật chứng gồm:
- 01 (Một) cây tre có độ dài 96cm; đường kính 2.5cm, phần thân tre dính 03 (Ba) chất bẩn màu nâu, có hình dạng và kích thước khác nhau. Phần đầu cây tre có gắn sợi dây cước màu trắng. Được niên phong bằng hình thức dán giấy, bên ngoài có dấu mộc của Công an xã A và chữ ký của ông Võ Tuấn C và ông Nguyễn Văn T;
- 01 (Một) cây tre có độ dài 96cm; đường kính 2.1cm, phần thân tre dính 03 (Ba) chất bẩn màu nâu, có hình dạng và kích thước khác nhau. Được niêm phong bằng hình thức dán giấy, bên ngoài có dấu mộc của Công an xã A, chữ ký của ông Võ Tuấn C, Nguyễn Văn T và hai dấu vân tay ngón trỏ trái, ngón trỏ phải của Nguyễn Văn L;
- 01 (Một) thanh kim loại hình hộp rỗng, kích thước (76,2x06x03)cm, hai bề mặt có vết rỉ sét, mặt ngoài thanh kim loại dính chất dịch màu nâu đỏ đã khô. Được niêm phong bằng hình thức sử dụng giấy A4 màu trắng bọc bên ngoài, mặt ngoài giấy có chữ ký của ông Võ Tuấn C, Tống Ngọc S, Dương Thanh A.
Trả lại cho Nguyễn Văn L 01 (Một) xe đạp điện màu xanh, số sườn APLM000582, đã qua sử dụng.
(Niêm phong còn nguyên vẹn, không kiểm tra tình trạng bên trong của tất cả các gói niêm phong trên).
Vật chứng đang được bảo quản tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 13-5-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N.
4. Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn L là anh em ruột có trách nhiệm liên đới bồi thường số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) cho anh Dương Thanh T1 và chị Phùng Thị L1.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.500.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Văn T tự nguyện nộp khắc phục hậu quả theo biên lai thu tiền số 0000654 ngày 07-3-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước để đảm bảo cho việc thi hành án;
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.500.000đ mà bị cáo Nguyễn Văn T tự nguyện nộp thay cho Nguyễn Văn L khắc phục hậu quả theo biên lai thu tiền số 0000655 ngày 07-3-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước để đảm bảo cho việc thi hành án;
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.000.000đ mà bà Nguyễn Thị K tự nguyện nộp thay cho Nguyễn Văn T khắc phục hậu quả theo biên lai thu tiền số 0000659 ngày 20-3-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước để đảm bảo cho việc thi hành án;
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.000.000đ mà bà Nguyễn Thị K tự nguyện nộp thay cho Nguyễn Văn L khắc phục hậu quả theo biên lai thu tiền số 0000660 ngày 20-3-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước để đảm bảo cho việc thi hành án;
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 7.500.000đ mà bà Nguyễn Thị K tự nguyện nộp thay cho Nguyễn Văn T khắc phục hậu quả theo biên lai thu tiền số 0000695 ngày 12-6-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước để đảm bảo cho việc thi hành án;
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 7.500.000đ mà bà Nguyễn Thị K tự nguyện nộp thay cho Nguyễn Văn L khắc phục hậu quả theo biên lai thu tiền số 0000696 ngày 12-6-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước để đảm bảo cho việc thi hành án.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 750.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20-6-2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Bình |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Hán Văn Mai Phạm Ngọc M | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh B1 |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về cố ý gây thương tích (hình sự)
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
