TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI TỈNH YÊN BÁI Bản án số: 20/2024/HS-ST Ngày 15-8-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý A Hờ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giàng A Tủa và bà Lìm Thị Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý A Dà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/HS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Hoàng Thị Thanh T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 19/12/1976, tại: thị xã N, tỉnh Yên Bái; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản N, xã P, huyện M, tỉnh Yên Bái; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Giáo viên; Con ông Hoàng Văn H và bà Nguyễn Thị T1 (Đều đã chết); Chồng: Trần Ngọc D – sinh năm 1974 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2007 bị cáo bị Công an huyện M xử phạt vi phạm hành chính về tội Đánh bạc, bị cáo chấp hành xong, tính đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo đã hết thời hiệu để được coi là chưa bị xử lý hành chính; Tại Bản án số: 55/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tuyên phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm và phạt bổ sung số tiền 30.000.000đ, hiện đang trong thời gian chấp hành. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lò Thị H1, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Tổ B, thị trấn M, huyện M, tỉnh Yên Bái. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 29/8/2022 đến ngày 22/6/2023, tại huyện M, tỉnh Yên Bái, Hoàng Thị Thanh T đã cho Lò Thị H1 vay 03 lần tiền với tổng số tiền 144.000.000đ, thu lời bất chính tổng số tiền 85.543.839đ, cụ thể như sau:
- Lần 1: Từ ngày 29/8/2022 đến ngày 26/12/2022 (120 ngày), bị cáo T đã cho chị H1 vay 50.000.000đ. H1 đã thanh toán 55.000.000đ tiền lãi, tương ứng với mức lãi suất là 334,6%/năm, cao gấp 16,73 lần so với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự (Tối đa là 20%, tương đương với số tiền 3.287.670đ). Số tiền thu lợi bất chính thực tế và xác định trách nhiệm hình sự đối với khoản vay này là 55.000.000₫ - 3.287.670₫ = 51.712.330₫.
Đối với khoản vay 50.000.000đ: H1 đã trả gốc 10.000.000đ, còn lại 40.000.000đ.
- Lần 02: Từ ngày 21/01/2023 đến ngày 17/4/2023 (87 ngày), bị cáo cho H1 vay 80.000.000đ (Trong đó có 40.000.000đ H1 còn nợ từ lần vay 01 và 40.000.000đ chị H1 vay thêm). H1 đã trả 26.200.000đ tiền lãi, tương ứng với mức lãi suất là 137,4%/năm, cao gấp cao gấp 6,87 lần so với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự (Tối đa là 20%, tương đương với số tiền 3.813.697đ). Số tiền thu lợi bất chính thực tế và xác định trách nhiệm hình sự đối với khoản vay này là 26.200.000₫ - 3.813.697₫ = 22.386.303₫.
Đối với khoản vay 80.000.000đ: H1 đã trả gốc 64.000.000đ, còn lại 16.000.000₫.
- Lần 03: Từ ngày 20/4/2023 đến 22/6/2023 (64 ngày), bị cáo cho H1 vay 70.000.000đ (gồm 16.000.000đ tiền nợ của lần vay 02 và 54.000.000đ chị H1 vay thêm). H1 đã trả 13.900.000đ tiền lãi, tương ứng với mức lãi suất là 113,2%/năm, cao gấp cao gấp 5,66 lần so với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự (Tối đa là 20%, tương đương với số tiền 2.454.794đ). Số tiền thu lợi bất chính thực tế và xác định trách nhiệm hình sự đối với khoản vay này là 13.900.000₫ - 2.454.794₫ = 11.445.206₫.
Đối với khoản vay 70.000.000đ: H1 đã trả gốc 2.500.000đ, còn lại 67.500.000đ.
Bản Cáo trạng số 20/CT-VKS-MCC ngày 23-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố bị cáo Hoàng Thị Thanh T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Thanh T phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Hoàng Thị Thanh T từ 120.000.000 đồng đến 130.000.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về vật chứng, tài sản thu giữ và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Truy thu của bị cáo số tiền 86.056.000₫ (76.500.000đ là số tiền gốc Lò Thị H1 đã trả cho bị cáo; 9.556.161đ là số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của H1), để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
- + Truy thu của chị Lò Thị H1 vay gốc của bị cáo chưa trả cho bị cáo là 67.500.000₫, để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
- + Buộc bị cáo Hoàng Thị Thu T2 trả cho chị Lò Thị H1 số tiền thu lời bất chính 85.543.839 đ.
- - Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lò Thị H1 trình bày: Nhất trí với nội dung bản cáo trạng, đề nghị bị cáo trả lại số tiền lãi vượt quá 20%/năm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ ngày 29/8/2022 đến ngày 22/6/2023, tại huyện M, tỉnh Yên Bái, Hoàng Thị Thanh T đã cho Lò Thị H1 vay 03 lần tiền cụ thể như sau:
- - Lần 1: Cho vay 50.000.000₫ trong thời gian 120 ngày thu được tiền lãi 55.000.000đ, tương ứng với mức lãi suất là 334,6%/năm, cao gấp 16,73 lần so với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự (Tối đa là 20%).
- - Lần 02: Cho vay 80.000.000đ (Trong đó có 40.000.000đ H1 còn nợ từ lần vay 01 và 40.000.000đ chị H1 vay thêm) với thời hạn 87 ngày thu được tiền lãi 26.200.000đ, tương ứng với mức lãi suất là 137,4%/năm, cao gấp 6,87 lần so với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự (Tối đa là 20%).
- - Lần 03: Cho vay 70.000.000₫ (gồm 16.000.000đ tiền nợ của lần vay 02 và 54.000.000đ chị H1 vay thêm) với thời hạn 64 ngày,thu được tiền lãi 13.900.000₫, tương ứng với mức lãi suất là 113,2%/năm, cao gấp 5,66 lần so với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự (Tối đa là 20% ).
Với tổng số tiền 03 lần thu lời bất chính là: 85.543.839đ (Trong đó Lần 1: 51.712.330đ, lần 2: 22.386.303đ, lần 3:11.445.206đ).
Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố đối với bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
- [3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức để điều chỉnh mọi hành vi hoạt động của bản thân nhưng vì muốn kiếm tiền bất chính, bị cáo vẫn cố ý thực hiện phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ; xâm phạm đến lợi ích của công dân, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Vì vậy, cần đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh.
- [4]. Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Năm 2007 bị cáo bị Công an huyện M xử phạt vi phạm hành chính về tội Đánh bạc, bị cáo chấp hành xong, tính đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo đã hết thời hiệu để được coi là chưa bị xử lý hành chính. Ngoài ra bị cáo Hoàng Thị Thanh T còn thực hiện hành vi Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự vào ngày 26/9/2022 và bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tuyên phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm và phạt bổ sung số tiền 30.000.000đ theo Bản án số: 55/2024/HS-ST ngày 25/4/2024. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/7/2024. Hiện đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 51/2024/HSST-LCKNCtr ngày 25/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, có bố chồng của bị cáo là liệt sỹ, trong quá trình giảng dạy tại trường nhiều năm được tặng danh hiệu Lao động tiên tiến. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- [5]. Về hình phạt: Từ những phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong lần phạm tội này bị cáo không có tiền án, tiền sự; có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vì mục đích lợi nhuận nên chỉ cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.
- [6]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền và hành vi của bị cáo không liên quan đến nghề nghiệp giáo viên, đồng thời nghề nghiệp của bị cáo không nguy hiểm cho xã hội nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và cấm hành nghề giáo viên đối với bị cáo.
- [7]. Về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án: Căn cứ vào hướng dẫn tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được sửa đổi bổ sung tại Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo phải đồng thời chấp hành 02 bản án và việc thi hành án do các cơ quan được giao trách nhiệm thi hành án hình sự phối hợp thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
- [8]. Về vật chứng, đồ vật tài sản thu giữ và các biện pháp tư pháp:
- - Vật chứng là các chứng từ giao dịch chuyển tiền và nhận tiền giữa Hoàng Thị Thanh Th Thủy và Lò Thị H1 được đưa vào hồ sơ vụ án; 02 giấy vay nợ Lò Thị H1 viết tay được đưa vào hồ sơ vụ án. Đây là tài liệu chứng cứ trong vụ án nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
- - Tổng số tiền gốc Lò Thị H1 đã trả cho bị cáo là 10.000.000đồng + 64.000.000đ + 2.500.000 đồng = 76.500.000 đồng và số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của H1 là 3.287.670 đồng + 3.813.697 đồng + 2.454.794 = 9.556.161 đồng. Số tiền này là phương tiện phạm tội và do phạm tội mà có nên cần truy thu của bị cáo nộp Ngân sách Nhà nước.
- - Đối với số tiền gốc mà Lò Thị H1 chưa trả cho bị cáo là 144.000.000₫ (Tổng số tiền cho vay) - 76.500.000 đồng (Số tiền đã trả bị cáo) = 67.500.000 đồng là phương tiện phạm tội nên cần truy thu từ chị H1 để nộp Ngân sách nhà nước.
- - Đối với số tiền thu lợi bất chính bị cáo thu được của chị Lò Thị H1 là 85.543.839 đồng. Đây là tài sản hợp pháp của chị H1 nên cần buộc bị cáo trả lại cho chị H1.
- [9]. Các vấn đề liên quan đến vụ án:
Ngoài những lần cho vay như đã nêu trên, bị cáo còn cho chị Lò Thị H1 vay tiền nhiều lần khác nhưng những lần này số tiền lãi vượt quá lãi suất quy định đều chưa đến 30.000.000₫, đồng thời những lần cho vay này của bị cáo tính đến thời điểm bị phát hiện đều đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định.
Ngày 15/9/2023 và 13/10/2023, Lò Thị H1 có chuyển khoản trả Hoàng Thị Thanh T tổng cộng 2.500.000,₫ qua số tài khoản Ngân hàng H2 tại Ngân hàng N mang tên Đồng Văn L, Cơ quan điều tra đã làm việc với Đồng Văn L - Sinh năm 1981, trú tại tổ F, phường C, thị xã N, tỉnh Yên Bái là chủ của tài khoản Ngân hàng số 8709999019778, quá trình làm việc Đồng Văn L khai nhận có được Hoàng Thị Thanh T mượn số tài khoản để Lò Thị H1 chuyển tiền cho Hoàng Thị Thanh T nhưng L không biết việc Hoàng Thị Thanh T cho Lò Thị H1 vay lãi nặng, toàn bộ số tiền này sau đó Đồng Văn L đã đưa cho Hoàng Thị Thanh T, do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Đồng Văn L.
- [10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [11]. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.
- [12]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Thanh T phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Thanh T số tiền 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu) đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Về vật chứng, đồ vật, tài sản thu giữ và biện pháp tư pháp:
Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- - Truy thu của bị cáo số tiền 86.056.161đ (T3 mươi sáu triệu, không trăm năm mươi sáu nghìn, một trăm sáu mươi mốt) đồng, để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
- - Truy thu của chị Lò Thị H1 số tiền 67.500.000đ (Sáu mươi bảy triệu, năm trăm nghìn) đồng, để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
- - Buộc bị cáo Hoàng Thị Thu T2 trả cho chị Lò Thị H1 số tiền 85.543.839đ (Tám mươi năm triệu, năm trăm bốn mươi ba nghìn, tám trăm ba mươi chín) đồng.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lý A Hờ |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ ngày 29/8/2022 đến ngày 22/6/2023, tại huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái, Hoàng Thị Thanh Thủy đã cho Lò Thị Hưng vay 03 lần tiền cụ thể như sau: - Lần 1: Cho vay 50.000.000đ trong thời gian 120 ngày thu được tiền lãi 55.000.000đ , tương ứng với mức lãi suất là 334,6%/năm, cao gấp 16,73 lần so với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự (Tối đa là 20%). - Lần 02: Cho vay 80.000.000đ (Trong đó có 40.000.000đ Hưng còn nợ từ lần vay 01 và 40.000.000đ chị Hưng vay thêm) với thời hạn 87 ngày thu được tiền lãi 26.200.000đ, tương ứng với mức lãi suất là 137,4%/năm, cao gấp 6,87 lần so với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự (Tối đa là 20%). - Lần 03: Cho vay 70.000.000đ (gồm 16.000.000đ tiền nợ của lần vay 02 và 54.000.000đ chị Hưng vay thêm) với thời hạn 64 ngày,thu được tiền lãi 13.900.000đ, tương ứng với mức lãi suất là 113,2%/năm, cao gấp 5,66 lần so với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự (Tối đa là 20% ). Với tổng số tiền 03 lần thu lời bất chính là: 85.543.839đ (Trong đó Lần 1: 51.712.330đ, lần 2: 22.386.303đ, lần 3:11.445.206đ).
