Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 20/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30/7/2024

Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Duy .

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Kiên Hiển
  2. Bà Lê Thị Xuân Mai

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Duy Dương– Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh – Kiểm Sát Viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 437/2023/TLST-HNGĐ ngày 02/10/2023 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/6/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1990.
  2. Hộ khẩu thường trú: D L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Địa chỉ tạm trú: 1 L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: ông Trần Quốc K, sinh năm 1991.
  4. Hộ khẩu thường trú: D L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Địa chỉ tạm trú: 67 M, Phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08/8/2023 và các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc L trình bày:

Bà và ông Trần Quốc K tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 67 ngày 15/9/2017.

Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn thường xuyên gây gổ, cãi vã do hai bên tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, cả hai đã cố gắng nhưng không thể hàn gắn được. Hiện nay bà và ông K đã không còn sống chung với nhau từ tháng 3/2022. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Quốc K.

Về con chung: bà và ông K có 02 con chung tên Trần Anh T sinh ngày 06/9/2017 và Trần An M sinh ngày 03/01/2019. Sau khi ly thân thì hai con vẫn ở chung với ông K tại nhà ông bà nội. Bà yêu cầu để bà được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản hòa giải ngày 29/02/2024, bị đơn ông Trần Quốc K trình bày:

Ông thống nhất với lời trình bày của bà L về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng. Nay bà L yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.

Về con chung hiện nay hai con Trần Anh T sinh ngày 06/9/2017 và Trần An M sinh ngày 03/01/2019 vẫn đang sống cùng ông. Ông yêu cầu để ông được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn – bà Nguyễn Ngọc L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu được ly hôn với ông Trần Quốc K và để bà được nuôi cả hai con Trần Anh T và Trần Anh M1. Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung.

Bị đơn - ông Trần Quốc K đồng ý ly hôn với bà L, ông yêu cầu để ông được nuôi cả hai con và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự, thẩm phán, thư ký và hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn - bà Nguyễn Ngọc L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn - ông Trần Quốc K có địa chỉ thường trú tại số D L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là vụ án “tranh chấp về ly hôn”. Theo quy định tại khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 67 ngày 15/9/2017 của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh và lời trình bày của các đương sự nên có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Ngọc L và ông Trần Quốc K là hợp pháp và được pháp luật công nhận.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của các đương sự đều thể hiện bà Nguyễn Ngọc L và ông Trần Quốc K có mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được và đều yêu cầu được ly hôn.

Xét thấy tình cảm giữa ông K và bà L đã không còn, tình trạng hôn nhân giữa hai bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Ngọc L với ông Trần Quốc K.

[3] Về con chung:

Căn cứ giấy khai sinh số 149 ngày 21/9/2017 mang tên Trần Anh T và giấy khai sinh số 69 ngày 07/5/2019 mang tên Trần Anh M1 của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận C, Thành Phố Hồ Chí Minh và trình bày của các đương sự thì ông Trần Quốc K và bà Nguyễn Ngọc L có 02 con chung tên Trần Anh T sinh ngày 06/9/2017 và Trần An M sinh ngày 03/01/2019.

Quá trình giải quyết vụ án ông K và bà L đều xác định, sau khi ông bà ly thân thì trẻ Trần Anh T con đang sống chung với ông K tại nhà cha mẹ ông K tại địa chỉ F M, Phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, còn trẻ Trần Anh M1 đang sống với mẹ tại địa chỉ 1 L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa bà L yêu cầu được nuôi cả hai con và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con, ông K cũng yêu cầu được nuôi cả hai con và không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.

Xét điều kiện của bà L và ông K đều có nơi cư trú ổn định, bà L có thu nhập trung bình từ 20.000.000 đồng/tháng đến 30.000.000 đồng/tháng, ông K có thu nhập trung bình 15.000.000 đồng/tháng. Hội đồng xét xử nhận thấy trẻ Trần Anh T và Trần Anh M1 đều còn nhỏ và cùng là con trai nên cần phải cho các con được sống chung với nhau để phát triển tình cảm gắn bó giữa hai anh em, trẻ nhỏ cần được sự quan tâm chăm sóc và tình cảm của người mẹ. Mặt khác các con đều đang đi học tại Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh nên nơi ở của bà L có điều kiện thuận lợi hơn trong việc đưa đón các con đi học và sinh hoạt chung. Do đó bà L có điều kiện tốt hơn về vật chất và tinh thần đảm bảo nuôi dưỡng tốt cả hai con nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn để cho bà Nguyễn Ngọc L được nuôi hai con Trần Anh T và Trần Anh M1.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Bà L, ông K không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Tại phiên tòa ông K có yêu cầu Tòa án giám định ADN của trẻ Trần Anh T vì ông nghi ngờ trẻ T không phải con ruột của ông. Hội đồng xét xử nhận thấy suốt quá trình lấy lời khai, hòa giải tại Tòa án, ông K đều thừa nhận trẻ Trần Anh T, Trần Anh M1 là con chung của ông với bà L. Ông K1 có yêu cầu phản tố về việc yêu cầu Tòa án xác định không phải quan hệ cha con. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông K về việc giám định AND trẻ Trần Anh T để xác định quan hệ huyết thống với ông K. Ông K có quyền yêu cầu khởi kiện về việc xác định không phải quan hệ cha con trong vụ án khác.

[6] Về án phí: Theo quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án thì Bà Nguyễn Ngọc L phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; khoản 4, Điều 147; khoản 1, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 56; Điều 57; Điều 69; Điều 71; Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc L.

- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc L được ly hôn với ông Trần Quốc K.

(Giấy chứng nhận kết hôn số 67 ngày 15/9/2017 của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh)

- Về con chung: Giao 02 trẻ Trần Anh T sinh ngày 06/9/2017 và Trần Anh M1 sinh ngày 03/01/2019 cho bà Nguyễn Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Trần Quốc K được quyền thăm nom con và phải có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Không ai có quyền cản trở ông K thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có quyền quyết định thay đổi người trực tiếp giữ nuôi hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0000898 ngày 20/9/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Ngọc L đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Ngọc L và ông Trần Quốc K được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 3;
  • - Chi cục THA Dân sự Quận 3;
  • - Ủy ban nhân dân Phường 14, Quận 3;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 20/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger