|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2024/HNGĐ-ST Ngày 26/9/2024
“V/việc ly hôn, tranh chấp nuôi con và
chia tài sản chung khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hành và bà Lê Thị Cẩm Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 28/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/08/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Cao Thị T, sinh năm: 1980; Nơi thường trú: TDP Đ, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Chổ ở hiện nay: TDP L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (có mặt) Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: ông Hồ Thế P, sinh năm 1987 và bà Trần Thị Phương N, sinh năm 1986. nghề nghiệp: Luật sư; nơi làm việc: C; địa chỉ: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Bá L, sinh năm: 1978; Nơi thường trú: TDP Đ, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Chổ ở hiện nay: TDP L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 07/04/2024, bản tự khai đề ngày 06/12/2023 và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Cao Thị T trình bày: chị Cao Thị T và anh Nguyễn Bá L tìm hiểu và đi đến kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là UBND phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh) vào ngày 21/9/2001. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống 5 năm đầu luôn xảy ra mâu thuẫn lý do chồng luôn bài bạc, gái gú và suốt từ đó đến nay vẫn chứng nào tật đó cứ mỗi lần đi đánh bài, ngoại tình về lại đánh đập, chửi bới vợ con mặc dù chị T đã tha thứ rất nhiều lần. Nay chị T xét thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị Cao Thị T làm đơn này kính mong Toà án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Nguyễn Bá L để mẹ con ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung là: Nguyễn Thị Huyền T1: Sinh ngày: 03/02/2002; Nguyễn Bá V;sinh ngày: 15/11/2003 Nguyễn Thị Huyền M: Sinh ngày: 27/6/2010. Nay ly hôn chị T có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Huyền M theo đơn nguyện vọng của cháu. Còn cháu Nguyễn Thị Huyền T1 và cháu Nguyễn Bá V trên 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Yêu cầu toà án giải quyết chia tài sản đối với tài sản chung sau Quyền sử dụng đất theo GCN số phát hành: DE 263990; số vào sổ GCN: CS02204; thửa đất số 101, tờ bản đồ số 73, diện tích: 742,3m² (Đất ở: 90m² + 652,3m² đất trồng cây lâu năm); Nguồn gốc: Công nhận QSD đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất 90m², Công nhận QSD đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất 652,3m² toạ lạc tại: TDP Đ, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; do Sở TN & MT tỉnh H cấp ngày 28/02/2022.
Về nợ chung và các khoản cho người khác vay: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng chúng tôi có khoản nợ chung nào cũng không cho người nào vay mượn tài sản gì. Nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tuy nhiên sau khi tiến hành thẩm định đối với thửa đất nói trên thì chị Cao Thị T có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 09/07/2024. Chị xin rút yêu cầu giải quyết về yêu cầu phân chia tài sản chung của vợ chồng là thửa đất số 101, tờ bản đồ số 73 nói trên.
Theo bản tự khai đề ngày 07/02/2023, văn bản đề nghị giải quyết đề ngày 20/8/2024 và quá trình công khai chứng cứ, hòa giải và tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Bá L trình bày: Anh Nguyễn Bá L và chị Cao Thị T kết hôn ngày 21/09/2001 đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã K (nay là phường K). Qúa trình chung sống vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn. Nay chị T yêu cầu ly hôn anh L đồng ý.
Về con chung: Quá trình hôn nhân vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền T1, sinh ngày 03/02/2002; cháu Nguyễn Bá V, sinh ngày: 15/11/2003, cháu Nguyễn Thị Huyền M, sinh ngày 27/6/2010. Chị T có nguyện vọng: cháu Nguyễn Thị Huyền T1, sinh ngày 03/02/2002; cháu Nguyễn Bá V, sinh ngày: 15/11/2003 đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa giải quyết, còn cháu Nguyễn Thị Huyền M, sinh ngày 16/5/2010 tôi tôn trọng quyền lựa chọn của cháu.
Tài sản chung: Vợ chồng có 01 thửa đất số 101, tờ bản đồ số 73, diện tích 724,3m² (đất ở 90m² và 652,3 m² đất trồng cây lâu năm), thửa đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo GCN số phát hành DE 263990, số vào sổ cấp GCN: CS 02204; địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố Đ, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh mang tên Cao Thị T và Nguyễn Bá L. (Trong thửa đất này còn có 10m đất mặt tiền của em gái Nguyễn Thị Linh N1, sinh năm 1984 và em gái Nguyễn Thị N2, sinh năm 1986). Thửa đất này hiện đã thỏa thuận phân chia cho các con nên anh Nguyễn Bá L không yêu cầu Tòa giải quyết
Hiện vợ chồng đang tranh chấp thửa đất số 360, tờ bản đồ số 33 có diện tích 198,5m²; thửa đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo GCN số phát hành DC 446816, số vào sổ cấp GCN: CS 01005 địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh mang tên Cao Thị T và tài sản trên đất có 1 ngôi nhà cấp 4 có diện tích gần 180m².
Thửa đất này thời điểm năm 2018 được cấp giấy chứng nhận đây mang tên Cao Thị T và Nguyễn Bá L. Đến tháng 07/2021 hai bên đã làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (chị T bảo sang tên cho chị nhưng sau này chị T 1 nửa, tôi 1 nửa, có văn bản thỏa thuận). Nay thửa đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo GCN số phát hành DC 446816, số vào sổ cấp GCN: CS 01005 cấp ngày 22/9/2021; địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh mang tên Cao Thị T.
Thửa đất và ngôi nhà trên là tài sản chung của vợ chồng nên anh Nguyễn Bá L có ý kiến đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh giải quyết theo pháp luật. Bị đơn không có yêu cầu phản tố.
- Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát:
- + Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự trong việc giải quyết và xét xử vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm,Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ, còn bị đơn chưa chấp hành về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
- + Về nội dung vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 273, Điều 149, 150, Khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Căn cứ vào các Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, 84, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình;
+ Về tình cảm: Xử cho chị Cao Thị T được ly hôn anh Nguyễn Bá L;
+ Về con chung: Giao con Nguyễn Thị Huyền M, sinh ngày 27/6/2010 cho chị Cao Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Buộc anh Nguyễn Bá L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị T 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 10/2024 cho đến khi con Nguyễn Thị Huyền M đủ tròn 18 tuổi.
+ Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bị đơn yêu cầu giải quyết về tài sản là thửa đất số 360, tờ bản đồ số 33 có diện tích 198,5m²; thửa đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo GCN số phát hành DC 446816, số vào sổ cấp GCN: CS 01005 địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh mang tên Cao Thị T và tài sản trên đất có 1 ngôi nhà cấp 4 có diện tích gần 180m². Tuy nhiên đây chỉ là ý kiến của bị đơn anh Nguyễn Bá L không có yêu cầu phản tố nên không xem xét.
Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn chị Cao Thị T và bị đơn anh Nguyễn Bá L về chia tài sản là thửa đất số 101, tờ bản đồ số 73, diện tích 724,3m² (đất ở 90m² và 652,3 m² đất trồng cây lâu năm), thửa đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo GCN số phát hành DE 263990, số vào sổ cấp GCN: CS 02204; địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố Đ, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh mang tên Cao Thị T và Nguyễn Bá L.
Về án phí: Các đương sự phải nộp án phí theo qui định của pháp luật. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, anh Nguyễn Bá L có hộ khẩu thường trú tại phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Anh Nguyễn Bá L vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: chị Cao Thị T và anh Nguyễn Bá L kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại với nhau tại Ủy ban nhân dân phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 21/9/2001, là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị T cho rằng nguyên nhân do anh L thường xuyên ghen tuông đánh đập, chửi bới chị, vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm đến nhau, không cùng nhau có trách nhiệm với gia đình nên chi mong muốn được ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy chị T và anh L mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được vì vậy căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Cao Thị T được ly hôn anh Nguyễn Bá L.
[2.2]. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền T1, sinh ngày 03/02/2002; cháu Nguyễn Bá V, sinh ngày: 15/11/2003 và Nguyễn Thị Huyền M, sinh ngày 27/6/2010. Hai con Nguyễn Thị Huyền T1, sinh ngày 03/02/2002; cháu Nguyễn Bá V, sinh ngày 15/11/2003 đã trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không mất khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Thị Huyền M, sinh ngày 27/6/2010 quá trình giải quyết vụ án anh L đồng ý để cháu ở với mẹ nên giao cháu Nguyễn Thị Huyền M cho chị Cao Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi). Buộc anh Nguyễn Bá L phải đóng góp tiền cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị T 2.000.000 đồng/ tháng kể từ tháng 10/2024 cho đến khi con Nguyễn Thị Huyền M đủ tròn 18 tuổi.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:
- - Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn và bị đơn thống nhất quá trình hôn nhân: vợ chồng có 01 thửa đất số 101, tờ bản đồ số 73, diện tích 724,3m² (đất ở 90m² và 652,3 m² đất trồng cây lâu năm), thửa đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo GCN số phát hành DE 263990, số vào sổ cấp GCN: CS 02204; địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố Đ, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh mang tên Cao Thị T và Nguyễn Bá L. (Trong thửa đất này còn có 10m đất mặt tiền của em gái Nguyễn Thị Linh N1, sinh năm 1984 và em gái Nguyễn Thị N2, sinh năm 1986). Thửa đất này hiện đã thỏa thuận phân chia cho các con nên các bên đương sự không yêu cầu Tòa giải quyết. Nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu.
- - Đối với bị đơn anh Cao Bá L1 có ý kiến. Hiện vợ chồng đang tranh chấp thửa đất số 360, tờ bản đồ số 33 có diện tích 198,5m²; thửa đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo GCN số phát hành DC 446816, số vào sổ cấp GCN: CS 01005 địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh mang tên Cao Thị T và tài sản trên đất có 1 ngôi nhà cấp 4 có diện tích gần 180m².
* Hồi đồng xét xử thấy rằng; thửa đất số 360, tờ bản đồ số 33 có diện tích 198,5m²; thửa đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo GCN số phát hành DC 446816, số vào sổ cấp GCN: CS 01005 địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh mang tên Cao Thị T. Trước đây thửa đất này được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành 244244, số vào sổ cấp GCN: CH 00581; thửa đất số: 186, tờ bản đồ số: 33/371 địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh có diện tích 198,5m²(Trong đố đất ở 80m2, đất trồng cây lâu năm khác 118,2m2) mang tên Nguyễn Bá L và Cao Thị T đúng là của vợ chồng như anh L khai là đúng thực tế. Tuy nhiên ngày 05/7/2021 anh Cao Bá L1 đã lập văn bản từ chối nhận tài sản và ngày 30/7/2021 các bên đã lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; bên tặng cho là Anh Cao Bá L1, bên được tặng cho là chị Nguyễn Thị T2 và hai văn bản này đều được chứng thực hợp đồng tại UBND phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Do đó ý kiến của anh Cao Bá L1 đối với thửa đất là không được chấp nhận. Quá trình giải quyết vụ án anh L1 không có yêu cầu phản tố nên Hội đồng xét xử không xem xét.
* Về nợ: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[3]. Về án phí: Chị Cao Thị T là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ. Và chị T thõa thuận nộp 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
[4]. Về chi phí thẩm định, định giá: Chị Cao Thị T thỏa thuận chịu toàn bộ chi phí thẩm định đối với thửa đất tại TDP Đ, phường K, thị xã K là 5.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp đủ nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 273, Điều 149, 150, Khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Căn cứ vào các Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điểm a Khoản 5, Đ a, Điểm d Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xử cho chị Cao Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Bá L.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Huyền M, sinh ngày 27/6/2010 cho chị Cao Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi). Anh Nguyễn Bá L có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị T mỗi tháng là 2.000.000đ (Hai triệu đồng) kể từ tháng 10/2024 cho đến khi con Nguyễn Thị Huyền M đủ tròn 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hướng xấu đến đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản: Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn chị Cao Thị T và bị đơn anh Nguyễn Bá L về chia tài sản là thửa đất số 101, tờ bản đồ số 73, diện tích 724,3m² (đất ở 90m² và 652,3 m² đất trồng cây lâu năm), thửa đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo GCN số phát hành DE 263990, số vào sổ cấp GCN: CS 02204; địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố Đ, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh mang tên Cao Thị T và Nguyễn Bá L.
-
Về án phí, lệ phí Tòa án:
- Chị Cao Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000đ Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con. Nhưng được trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014611 ngày 14/11/2023 của Chi cục Thi hành án thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niên yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thanh Hương |
Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn
- Số bản án: 20/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 20
