TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 9 - 2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Thuy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Dũng và bà Bùi Thị Lành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Dung.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dântỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXX-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1991; nơi ĐKHKTT: Thôn D, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: P, Tòa nhà Village House I, 1-457 S, Komaki-shi, A-ken, Nhật Bản; vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền giao, nhận các văn bản tố tụng của chị Nguyễn Thị M: Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Quốc Đ, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn D, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án, thì nội dung vụ án được xác định như sau:
Chị Nguyễn Thị M và anh Trần Quốc Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 30 tháng 8 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện D (nay là thị xã D), tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong công việc, trong cuộc sống, anh Đ không chịu khó làm ăn và không có trách nhiệm với gia đình, vợ con. Do kinh tế khó khăn nên năm 2017, chị M sang Nhật Bản làm ăn nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không được cải thiện, vợ chồng không có tiếng nói chung, bản thân anh Đ không thay đổi, vẫn mải chơi và không quan tâm đến vợ con. Nay chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Đ được ly hôn.
Quan điểm của anh Trần Quốc Đ: Anh xác định nguyên nhân mẫu vợ chồng là do anh không tu chí làm ăn nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh chị đã sống ly thân từ khi chị M sang Nhật Bản. Nay chị M làm đơn xin ly hôn anh nhất trí. Đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị M được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng anh chị xác định có 01 con chung là cháu Trần Nhật D, sinh ngày 30/12/2011. Hiện cháu D đang ở cùng anh Đ. Khi ly hôn, chị M đề nghị Tòa án giao cháu D cháu cho anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng, chị M tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu D cùng anh Đ 3.000.000 đồng/tháng đến khi cháu D đủ 18 tuổi. Anh Đ nhất trí với quan điểm của chị M về phần con chung.
Về tài sản chung, riêng, công nợ, công sức đóng góp, ruộng cấy nông nghiệp và các vấn đề khác: Vợ chồng anh chị không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị M tự nguyện nộp toàn bộ án phí của chị và anh Đ .
Ngoài ra, anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề nào khác nữa.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của BLTTDS 2015.
- Ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Trần Quốc Đ.
Về con chung: Chấp nhận sự thỏa thuận của anh chị, giao cháu Trần Nhật D, sinh ngày 30/12/2011 cho anh Trần Quốc Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị M có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu D 3.000.000 đồng/tháng đến khi cháu đủ 18 tuổi. Án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp cấp dưỡng nuôi con chung chị Nguyễn Thị M phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đợc xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam thụ lý, giải quyết vụ án là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 2 Điều 38, Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối việc chấp hành pháp luật của đương sự đều đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự và người đại diện theo ủy quyền giao, nhận văn bản tố tụng của chị M. Nay chị M, anh Đ và ông T đều có quan điểm xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị M, anh Đ và ông T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Trần Quốc Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh Đ không chịu khó làm ăn và không có trách nhiệm với gia đình, vợ con nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017. Nay chị M và anh Đ đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên anh chị đều đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Do đó, căn cứ vào Điều 55, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử công nhận thuận tình ly hôn cho chị Nguyễn Thị M và anh Trần Quốc Đ là phù hợp với thực tế và đúng quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng anh chị xác định có 01 con chung là cháu Trần Nhật D, sinh ngày 30/12/2011. Khi ly hôn chị M, anh Đ thống nhất giao cháu D cho anh Đ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng; chị M có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng anh Đ 3.000.000 đồng/tháng đến khi cháu D đủ 18 tuổi. Xét thấy, việc thỏa thuận về nuôi con, cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung, riêng, công nợ, công sức đóng góp, ruộng cấy nông nghiệp và các vấn đề khác: Vợ chồng không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị M tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn của vợ chồng nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện này của chị M.
Về án phí cấp dưỡng: Chị M còn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 38; Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 238; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83, 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Trần Quốc Đ.
Về con chung: Giao anh Trần Quốc Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu Trần Nhật D, sinh ngày 30/12/2011 cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Chị M có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng anh Đ mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi. Các bên có đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về án phí:
- Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
- Án phí cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
Đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Nguyễn Thị M đã nộp theo biên lai số 0001484 ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam, chị Nguyễn Thị M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị Nguyễn Thị M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng; anh Nguyễn Quốc Đ1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Đặng Văn Thuy |
5
Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 20/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vì mâu thuẫn trong quá trình chung sống; xét thấy, đời sống hôn nhân trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị M đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Trần Quốc Đ
