TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 20/2024/HNGĐ-PT Ngày 28-8-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hà Nam
Các Thẩm phán: Ông Trần Hữu Vinh
Ông Bùi Trọng Danh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Nam, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Chung - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2024/TLPT-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 14/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh N; sinh năm 1972; cư trú tại: F đường N, khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.
- - Bị đơn: Bà Thái Thị Kim S; sinh năm 1975; cư trú tại: K đường T, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn M; sinh năm 1941. Vắng mặt;
- Ông Nguyễn Văn Q; sinh năm 1964. Vắng mặt;
- Bà Nguyễn Thị Bích P; sinh năm 1967. Vắng mặt;
- Ông Lê Phước C; sinh năm 1951. Vắng mặt;
- Bà Trịnh Thị H; sinh năm 1949. Vắng mặt;
- Ông Lê Văn C1, sinh năm 1987; cư trú tại: ấp V, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt.
- - Người kháng cáo: Bà Thái Thị Kim S, là bị đơn trong vụ án.
Cùng địa chỉ nơi cư trú: 62 đường N, khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ nơi cư trú: 18 đường T, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh N, trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Thái Thị Kim S đăng ký kết hôn ngày 29-4-2008, tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhau trong khu tập thể của Công ty nơi ông làm việc tại thành phố Đà Nẵng; đến năm 2010, giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên ông đi vào Thành phố Hồ Chí Minh và làm việc tại đây. Đến năm 2012, ông xây nhà tại số B, nay là số C đường T, ấp C, tổ B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Sau đây viết tắt là số 32 đường T) rồi ra Đà Nẵng đưa bà S vào ở cùng; tuy nhiên, sau đó vẫn do phát sinh nhiều mâu thuẫn nên bà S đã về lại Đà Nẵng và vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Hiện tại, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã quá trầm trọng, không còn tình cảm với nhau, nên ông xin ly hôn với bà S.
- Về con chung: Ông và bà S không có con chung.
- Về tài sản chung:
- + Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung của ông với bà S.
- + Đối với tài sản bà S yêu cầu Tòa án giải quyết chia thì ông đồng ý chia theo yêu cầu của bà S; riêng thửa đất tại số C đường T là tài sản riêng của ông do được ông mua từ trước khi kết hôn với bà S; tiền mua từ nguồn cha mẹ cho và anh, chị cho mượn, nên ông không đồng ý phân chia cho bà S.
- Về nợ chung: Ông và bà S không có nợ chung.
Bị đơn bà Thái Thị Kim S, trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà thống nhất với nội dung trình bày của ông Nguyễn Thanh N về kết hôn và quá trình hôn nhân, còn nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do ông N cư xử không đúng, phân biệt vùng miền, không tôn trọng bà. Nay bà cũng thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể tiếp tục sống chung nên bà đồng ý ly hôn với ông N.
- Về con chung: Bà và ông N không có con chung.
- Về tài sản chung: Bà và ông N có tài sản chung, gồm: 01 căn nhà (nhà và đất) tại số C đường T; 03 xe mô tô; 01 ti vi, hiệu S1; 01 cặp loa, hiệu Paramax; 01 âm ly, hiệu Paramax SA-999 piano; 01 đầu karaok, hiệu Paramax LS 5000; 01 đầu micro, hiệu Paramax Pro-8000; 01 tủ kính để ti vi, đầu máy; 01 tivi, hiệu TCL và tủ để ti vi; 01 dàn máy vi tính và loa, bàn ghế; 02 quạt điện; 03 tủ đựng quần áo; 01 bộ bàn ghế trang điểm; 01 giường, nệm, tủ; 01 tủ lạnh, hiệu Samsung; 01 lò vi sóng, hiệu Elextrolux; 01 bếp ga; 01 máy giặt, hiệu LG; 01 tủ nhôm 05 tầng; 01 tủ nhôm 04 tầng; 01 bàn tròn Inox. Căn nhà tại số C đường T đang được ông N cho thuê từ tháng 6-2021 cho đến nay với giá 2.000.000 đồng/ tháng. Bà S yêu cầu chia tài sản chung và tiền cho thuê nhà nói trên cho bà 50% trị giá bằng tiền.
- Về nợ chung: Bà và ông N không có nợ chung.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Phước C và bà Trịnh Thị H, thống nhất trình bày: Vào năm 2006, gia đình ông, bà có nhượng lại cho ông Nguyễn Thanh N diện tích đất 130m² tại số C đường T với giá 60 triệu đồng. Tiền mua đất được ông N và anh em gia đình ông N thanh toán làm nhiều đợt cho ông, bà và đã trả đủ. Vì đất có nguồn gốc của cha mẹ để lại nên khi chuyển nhượng cho ông N thì gia đình ông, bà cùng các con ký xác nhận. Riêng việc ông N có hay không chung tiền với người nào khác để mua thửa đất này thì ông, bà không nắm được.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M, trình bày: Ngày 18-01-2006, ông có cho con trai là Nguyễn Thanh N 30.000.000 đồng để mua đất tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2008 thì gia đình ông mới cưới vợ cho ông N; ông xác định số tiền nói trên được cho riêng ông N. Nay bà S yêu cầu giải quyết phân chia tài sản nói trên thì ông không có ý kiến hay yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Q, trình bày: Ông là anh rể của Nguyễn Thanh N. Vào năm 2006, ông có cho ông N mượn 20.000.000 đồng để mua đất tại số C đường T. Nay bà S yêu cầu giải quyết phân chia tài sản nói trên với ông N thì ông không có ý kiến hay yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích P, trình bày: Bà là chị gái của Nguyễn Thanh N. Vào năm 2006, bà có cho ông N mượn 10.000.000 đồng để mua đất tại số C đường T. Nay bà S yêu cầu giải quyết phân chia tài sản nói trên với ông N thì bà không có ý kiến hay yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn C1, trình bày: Ông hiện đang thuê nhà ở của ông Nguyễn Thanh N tại số C đường T. Thời gian thuê bắt đầu từ tháng 8-2022 đến nay với giá 2.300.000 đồng/ tháng. Trước khi cho thuê thì ông N cũng phải sửa chữa lại nên mới ở tạm được như hiện nay. Việc bà S và ông N yêu cầu chia tài sản này thì ông không có ý kiến gì; nếu ông N hoặc bà S không cho thuê nhà nữa thì ông sẽ trả lại nhà.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Thái Thị Kim S và ông Nguyễn Thanh N thống nhất được trị giá tài sản tranh chấp trong vụ án là 1.300.000.000 đồng, cụ thể:
- - Quyền sử dụng đất tại số C đường T, trị giá 1.100.000.000 đồng;
- - Nhà xây trên đất tại số C đường T, trị giá 100.000.000 đồng;
- - Trang thiết bị phục vụ sinh hoạt trong nhà, gồm: 01 ti vi, hiệu S1; 01 cặp loa, hiệu Paramax; 01 âm ly, hiệu Paramax SA-999 piano; 01 đầu karaok, hiệu Paramax LS 5000; 01 đầu micro, hiệu Paramax Pro-8000; 01 tủ kính để ti vi, đầu máy; 01 ti vi, hiệu TCL và tủ để ti vi; 01 dàn máy vi tính, loa, bàn ghế; 02 quạt điện; 03 tủ đựng quần áo; 01 bộ bàn ghế trang điểm; 01 giường, nệm, tủ; 01 tủ lạnh, hiệu Samsung; 01 lò vi sóng, hiệu Elextrolux; 01 bếp ga; 01 máy giặt, hiệu LG; 01 tủ nhôm 05 tầng; 01 tủ nhôm 04 tầng và 01 bàn tròn Inox, trị giá 100.000.000 đồng.
- - Riêng đối với 03 xe mô tô, bà S và ông N đã tự thỏa thuận phân chia và không yêu cầu giải quyết.
Với nội dung nói trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã tuyên xử:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 157, 158, 244, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 33, 43, 55, 56, 59 và 62 của Luật Hôn nhân và gia đình; các điều 213 và 2019 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn” của ông Nguyễn Thanh N đối với bà Thái Thị Kim S.
- - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Thanh N và bà Thái Thị Kim S.
- - Về tài sản chung: Chia cho ông N sở hữu nhà ở trên đất tại số C đường T; ông N phải trích trả cho bà S 187.950.000 đồng. Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo cho các đương sự biết theo quy định của pháp luật.
Ngày 03-5-2024, bà S nộp đơn kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm về chia tài sản chung. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xác định thửa đất diện tích 130m² tại số B, nay là số C đường T, ấp C, tổ B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung của bà S và ông N để giải quyết chia cho bà 50% trị giá thửa đất này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét kháng cáo của bà Thái Thị Kim S về yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xác định thửa đất diện tích 130m² tại số C đường T là tài sản chung của bà S và ông N để giải quyết chia cho bà 50% trị giá thửa đất này, thì thấy:
Đối với thửa đất diện tích 130m² tại số C đường T cho đến nay vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng, tuy nhiên diện tích đất này là một phần của thửa đất đã được Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 964157 ngày 13-12-2011 cho hộ ông Lê Phước C. Tại Tờ hợp đồng sang nhượng đất, lập ngày 18-01-2006, hộ gia đình ông C đã ký bán diện tích thửa đất 130m² cho ông Nguyễn Thanh N với giá tiền 60.000.000 đồng.
Quá trình thanh toán tiền và sử dụng đất, như sau: Ngày 18-01-2006, ông N trả 30.000.000 đồng; ngày 08-8-2006, ông Nguyễn Văn Q trả 20.000.000 đồng; ngày 26-10-2006, bà Nguyễn Thị Bích P trả 10.000.000 đồng; đến năm 2012, ông N xây nhà trên đất để ở và từ năm 2022 đến nay thì cho thuê.
Tại thời điểm mua đất, thanh toán tiền đất và xác lập quyền sử dụng diện tích đất tại số C đường T nói trên cho ông Nguyễn Thanh N thì ông N chưa kết hôn với bà Thái Thị Kim S. Quá trình giải quyết vụ án, bà S cho rằng thửa đất tại số C đường T là tài sản chung của bà và ông Nguyễn Thanh N do thời điểm mua đất năm 2006 thì bà góp tiền chung với ông N để mua thửa đất này. Tuy nhiên, cho đến nay bà S vẫn không đưa ra được chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày này của bà; còn về phía ông N thì không đồng ý với với lời trình bày của bà S về nội dung bà S có góp tiền mua đất, nên bà phải chịu hậu quả pháp lý về nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất tại số C đường T không phải là tài sản chung của bà S và ông N và không chia trị giá thửa đất cho bà S là có căn cứ, đúng với quy định tại Điều 33, Điều 43 và Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 221 và Điều 223 của Bộ luật Dân sự, nên yêu cầu kháng cáo của bà S không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về án phí: Do không được chấp nhận kháng cáo nên bà S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Thái Thị Kim S; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
Không chấp nhận kháng cáo của bà Thái Thị Kim S;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Căn cứ vào Điều 33, Điều 43 và Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Điều 221 và Điều 223 của Bộ luật Dân sự; Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Quyền sử dụng đất tại số B, nay là số C đường T, ấp C, tổ B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh không phải là tài sản chung của bà Thái Thị Kim S và ông Nguyễn Thanh N.
- Về án phí: Bà Thái Thị Kim S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0000275 ngày 09-5-2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; bà S đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Hà Nam |
7
Bản án số 20/2024/HNGĐ-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 20/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông N xin ly hôn vì vợ chồng không có con và mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng
