|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2024/DSST
Ngày: 03-5-2024
V/v “Tranh chấp di sản
thừa kế quyền sử dụng đất;
hủy Giấy CNQSDĐ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Công Trí
Ông Võ Chùm
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sáu, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 33/2019/TLST-DS ngày 28/5/2019 V/v “Tranh chấp di sản thừa kế QSD; Hủy Giấy CNQSDĐ”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số ..../2024/QĐ-ST ngày 19/4/2024; Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1956; Địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: Ông Phạm Hồng P, luật sư Công ty TNHH L9; địa chỉ: C T, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt
- Bị đơn:
- Bà Trần Thị S, sinh năm 1945;
- Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1973;
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Đều có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Yên;
- Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Ông Nguyễn Tấn P1, sinh năm 1947; Địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Ông Phan Văn S1, sinh năm 1964;
- Bà Phan Thị L1, sinh năm 1984;
- Bà Phan Thị N, sinh năm 1987;
- Ông Phan Linh V, sinh năm 1989;
- Bà Phan Thị Kim C, sinh năm 1992;
- Bà Phan Thị Kim T1, sinh năm 1995;
- Ông Phan Linh V1, sinh năm 1999;
Ông S1, bà L1, bà N, ông V, bà C, bà T1, ông V1 cùng địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Tôn Thất T2, sinh năm 1969;
- Ông Tôn Thất K, sinh năm 1974;
- Ông Tôn Thất S2, sinh năm 1978;
- Bà Tôn Thị P2, sinh năm 1982;
Ông T2, ông K, ông S2, bà P2 cùng địa chỉ: Thôn H, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Bà Phạm Thị T3, sinh năm 1960 (vợ ông Nguyễn Tấn L); Địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Bà Nguyễn Thị T4 (vợ ông Nguyễn Tấn T); Địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Ông P1, bà T3, bà T4 có mặt, những người khác đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/4/2022, bổ sung ngày 21/7/2022, quá trình giải quyết vụ án, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: luật sư Phạm Hồng P, nguyên đơn: ông Nguyễn Tấn L và vợ (bà Phạm Thị T3) thống nhất trình bày:
Cha mẹ tôi tên Nguyễn Ngọc Q (chết 1998), Trần Thị X (chết 2010), có quyền sử dụng đất được Nhà nước cân đối theo GCNQSDĐ số G 738803 cấp ngày 21/5/2004 cho Trần Thị X, thời điểm cân đối đất theo Nghị định 64/CP hộ cha mẹ tôi có 02 khẩu nhưng khi nhà nước cấp sổ đỏ cha tôi đã chết nhưng thực tế đất vẫn là do cha mẹ tôi được nhà nước giao, mẹ tôi già yếu nên sống cùng vợ chồng tôi, nhưng do tôi đi làm xa, vợ tôi là người nuôi dưỡng, chăm sóc mẹ, không có điều kiện canh tác đất nên mẹ tôi giao cho anh tôi Nguyễn Tấn Đ canh tác và đưa lúa cho mẹ tôi ăn.
Quá trình canh tác trên 03 thửa đất theo GCN, anh tôi là Nguyễn Tấn Đ tự ý kê khai và được nhà nước cấp GCNQSDĐ số AK 649371 ngày 08/12/2009 cho Nguyễn Tấn Đ, Trần Thị S đối với thửa 324 tờ bản đồ số 27 diện tích 890m² (chính là thửa đất có diện tích 587m² trong GCNQSDĐ số G 738803 cấp ngày 21/5/2004) và con trai anh Đ là cháu Nguyễn Tấn T kê khai thửa 308 diện tích 762m² (chính là thửa đất có diện tích 330m² trong GCNQSDĐ số G 738803 cấp ngày 21/5/2004). Sau khi anh Đ chết năm 2017, gia đình họp phân chia đất thì phát hiện việc anh Đ có sổ đỏ thửa 324, còn thửa 308 thì cháu T có nói là đất của cháu chuyển nhượng lại cho tôi, tôi không chấp nhận việc này, nên trong gia đình xảy ra mâu thuẫn, cháu T có nhiều lời nói xúc phạm tôi, cho rằng đất của cha cháu và đất của cháu được nhà nước chia, điều này không đúng với nguồn gốc đất.
Do đó tôi khởi kiện yêu cầu Tòa chia di sản thửa kế đối với 02 thửa 308 và 324 theo quy định của pháp luật, hủy GCNQSDĐ số AK 649371 do UBND huyện T cấp ngày 08/12/2009 cho Nguyễn Tấn Đ, Trần Thị S.
Cha mẹ sinh được 07 người con nhưng chết nhỏ 02 người còn lại 05 người gồm: Nguyễn Tấn P1, Nguyễn Tấn Đ (chết 2017, có vợ Trần Thị S, con tên Nguyễn Tấn T), Nguyễn Tấn L, Nguyễn Thị H (chết 1990, có các con tên Tôn Thất T2, Tôn Thất K, Tôn Thất S2, Tôn Thị P2), Nguyễn Thị Y (chết 2014, có chồng Phan Văn S1, con Phan Thị L1, Phan Thị N, Phan Linh V, Phan Thị Kim C, Phan Thị Kim T1, Phan Linh V1). Các đồng thừa kế gồm anh P1, các con chị H, chị Y1 đều có ý kiến giao kỷ phần thừa kế của họ cho tôi nên tôi yêu cầu Tòa chia hiện vật cho tôi nhận 04 phần, gia đình anh Đ nhận 01 phần. Hiện tôi đang canh tác thửa 308, còn thửa 324 hiện chị S cùng cháu T đang canh tác. Tuy nhiên, nay tôi yêu cầu chia thừa kế 02 thửa này thì các anh chị em khác đã thống nhất cho tôi, tôi được nhận diện tích nhiều hơn nên xin nhận lại thửa 324 để làm thu hoạch hoa màu làm kinh phí tu tảo mồ mả, thờ cúng cho ông bà, cha mẹ. Theo tôi thì Tòa cộng diện tích của 02 thửa, chia 5 phần, phần tôi nhận 04 phần, anh Đ (do cháu T, bà S nhận) 01 phần, tôi nhận hết thửa 324 và 01 phần thửa 308. Nếu không đảm bảo việc tách thửa đất thì tôi nhận hết 02 thửa và thanh toán giá trị cho gia đình anh Đ, vì gia đình anh Đ vẫn còn đất canh tác theo Nghị định 64/CP mà Nhà nước cân đối cho gia đình anh Đ.
Theo kết quả đo đạc thửa 308 chỉ có diện tích 417,6m² tôi không biết chênh lệch thiếu do đâu, vì bìa ranh đã có sẵn. Ngoài ra theo GCNQSDĐ số G 738803 cấp ngày 21/5/2004 có thửa đất 112m² chính là thửa 309, anh tôi đã trả lại cho chủ đất cũ nhưng vẫn còn nằm trong sổ đỏ của mẹ tôi, nhà nước cấp sổ đỏ mới cho anh tôi, chỉnh lý tên người sử dụng trên tờ bản đồ số 27 mà chưa có sự phân chia đất trong gia đình tôi, không thu hồi sổ đỏ của mẹ tôi là không đúng. Tuy nhiên tôi chỉ yêu cầu chia thừa kế thửa 324 và 308, không yêu cầu gì đối với thửa 309.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Tấn T, bà Trần Thị S thống nhất trình bày:
Về người thừa kế của cụ Nguyễn Ngọc Q, Trần Thị X thống nhất như ông L.
Về nguồn gốc thửa đất 324 và 308 thống nhất là đất có nguồn gốc của cụ Q, cụ X, tuy nhiên quá trình sử dụng đất, gia đình đã được nhà nước cân đối chia lại thửa 324 đã được cấp GCNQSDĐ số AK 649371 ngày 08/12/2009 cho Nguyễn Tấn Đ, Trần Thị S và thực tế bà Trần Thị S đang canh tác từ khi ông nội chết cho đến nay. Còn thửa 308 đứng tên Nguyễn Tấn T trên bản đồ 27, thực tế cha tôi Nguyễn Tấn Đ cũng là người canh tác, sau khi cha tôi chết năm 2017 thì giao lại thửa 308 cho chú Nguyễn Tấn L canh tác cho đến nay chứ bản thân tôi cũng không canh tác thửa đất này.
Do đó đối với yêu cầu chia thừa kế của chú L thì không thống nhất vì đất được nhà nước chia lại cho cha mẹ nên mẹ Trần Thị S vẫn được canh tác trên thửa 324, còn thửa 308 chú L tiếp tục làm và tiến hành làm giấy tờ đứng tên chú L chứ tôi chỉ đứng tên trên bản đồ địa chính.
Quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến trình bày:
-
Ông Nguyễn Tấn P1 trình bày: Cha mẹ tôi tên Nguyễn Ngọc Q (chết 1998), mẹ Trần Thị X (chết 2010), sinh được 07 người con nhưng chết nhỏ 02 người còn lại 05 người như em tôi đã trình bày. Cha mẹ tôi có quyền sử dụng đất được Nhà nước cân đối theo GCNQSDĐ số G 738803 cấp ngày 21/5/2004 cho Trần Thị X, thời điểm cân đối đất theo Nghị định 64/CP hộ cha mẹ tôi có 02 khẩu nhưng khi nhà nước cấp sổ đỏ cha tôi đã chết nhưng thực tế đất vẫn là do cha mẹ tôi được nhà nước giao, mẹ tôi già yếu, bản thân tôi và anh Đ không nuôi dưỡng được mẹ nên vợ chồng em tôi (L, T3) nuôi mẹ. Do đó, tôi đã viết Giấy chuyển nhượng đất theo sổ đỏ đứng tên mẹ tôi cho vợ chồng em tôi. Trong nội dung tôi có nhắc đến các thửa đất theo di chúc của cha nhưng thực tế các thửa đất theo di chúc này đã không còn sau khi Nhà nước thực hiện khoán 10.
Nay vợ chồng em tôi L, Thay tranh chấp với chị S (vợ anh Đ), cháu T (con anh Đ) thì tôi có ý kiến: yêu cầu Tòa xác định 02 thửa đất 324, 308 em tôi tranh chấp là đất của cha mẹ chúng tôi, việc anh Đ làm sổ đỏ năm 2009 đứng tên anh Đ là hoàn toàn không đúng pháp luật, anh Đ có sổ được giao Nghị định 64/CP là các thửa đất khác. Tôi vẫn thống nhất giao quyền cho em tôi, nay em tôi tranh chấp thì tòa giải quyết theo pháp luật, trên cơ sở yêu cầu của hai bên, tôi không ý kiến tranh chấp gì.
-
Tại đơn trình bày và yêu cầu đề ngày 03/3/2023, các ông bà: Phan Văn S1, Phan Thị L1, Phan Thị N, Phan Linh V, Phan Thị Kim C, Phan Thị Kim T1, Phan Linh V1 thống nhất: là người thừa kế của bà Nguyễn Thị Y có quyền lợi liên quan đến thửa đất 324 và thửa đất 308 tờ bản đồ số 27 tọa lạc tại Đ, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên, không có ý kiến và yêu cầu riêng trong việc khởi kiện của ông Nguyễn Tấn L, trường hợp Tòa chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông L có chia kỷ phần cho chúng tôi thì chúng tôi giao lại toàn bộ suất thừa kế được nhận cho ông L toàn quyền sử dụng, sở hữu.
-
Theo các đơn trình bày và yêu cầu đề ngày 18/3/2023 và quá trình giải quyết vụ án, các ông bà: Tôn Thất T2, Tôn Thất K, Tôn Thất S2, Tôn Thị P2 thống nhất: là người thừa kế của bà Nguyễn Thị H, không tranh chấp tài sản của ông bà ngoại Nguyễn Ngọc Q, Trần Thị X liên quan đến thửa đất 324 và thửa đất 308 tờ bản đồ số 27 tọa lạc tại Đ, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên, trường hợp Tòa chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông L có chia kỷ phần cho chúng tôi thì chúng tôi giao lại toàn bộ suất thừa kế được nhận cho ông L toàn quyền sử dụng, sở hữu.
-
Quá trình giải quyết vụ án, UBND huyện T và UBND xã A đã cung cấp tài liệu, trình bày ý kiến thể hiện tại các Biên bản làm việc ngày 12/5/2023, 17/5/2023, Công văn số: 2887/UBND ngày 16/11/2023; Công văn số: 211/UBND ngày 22/01/2024:
Hồ sơ cấp Giấy CNQSDĐ bà Trần Thị X:
Ngày 21/5/2004, bà Trần Thị X (mẹ ruột ông Nguyễn Tấn Đ) được UBND huyện T cấp Giấy CNQSDĐ số G 738803, tổng diện tích 1.029m², gồm có 03 thửa đất:
- Thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, diện tích 587m², loại đất 1 lúa.
- Thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, diện tích 330m², loại đất 1 lúa.
- Thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, diện tích 112m², loại đất 2 lúa.
Năm 1995, xã A khi thực hiện Nghị định 64/CP của Chính phủ là dựa trên bộ giao khoán đất của HTX N1 để cân đối cho hộ gia đình, cá nhân. Vì không có bản đồ đo đạc theo Chỉ thị 229/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ.
Hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Tấn Đ:
Ngày 27/10/2007, vợ chồng ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trần Thị S làm đơn đề nghị cấp Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất: thửa 324 tờ bản đồ số 27 (theo bản đồ đo năm 2007), diện tích 890m², loại đất trồng cây HNK. Ngày 29/10/2007, UBND xã A ký xác nhận nguồn gốc khai hoang, thời điểm sử dụng đất từ năm 1963. Ngày 27/11/2009, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T ký xác nhận đất được Nhà nước công nhận QSDĐ, sử dụng không tranh chấp khiếu kiện. Ngày 30/11/2009, Phòng tài nguyên và môi trường huyện T ký xác nhận đủ điều kiện cấp Giấy CNQSDĐ trình UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số AK 649371, thửa đất số 324 tờ bản đồ số 27 (theo bản đồ đo năm 2007) diện tích 890m² loại đất trồng cây HNK ký ngày 08/12/2009 cho vợ chồng ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trần Thị S sử dụng.
Theo Biên bản làm việc ngày 12/5/2023 của TAND huyện Tuy An với UBND xã A và Biên bản làm việc ngày 17/5/2023 của TAND huyện Tuy An với Phòng tài nguyên và môi trường: Xác định: thửa đất số 324 tờ bản đồ số 27 (theo bản đồ đo năm 2007) diện tích 890m² loại đất trồng cây HNK do vợ chồng ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trần Thị S sử dụng là thửa đất UBND huyện T đã cấp GCNQSDĐ số G 738803, thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, diện tích 587m², loại đất 1 lúa ký ngày 21/5/2004 cho bà Trần Thị X sử dụng. Nguyên nhân do UBND xã A nay là xã A không xác minh nguồn gốc thửa đất dẫn đến sai sót. Do đó UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số AK 649371, thửa đất số 324 tờ bản đồ số 27 (theo bản đồ đo năm 2007) diện tích 890m² loại đất trồng cây HNK ký ngày 08/12/2009 cho vợ chồng ông Nguyễn Tấn Đ, bà Trần Thị S sử dụng là cấp không đúng đối tượng sử dụng đất.
Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn L, bà Phạm Thị T3 giữ nguyên yêu cầu chia thừa kế, hủy GCNQSDĐ của ông Đ, ông nhận thửa 308, gia đình bị đơn nhận thửa 324 và thanh toán kỷ phần chênh lệch cho nguyên đơn.
Bị đơn bà Trần Thị S, ông Nguyễn Tấn T đồng ý nhận thửa 324 nhưng không chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSDĐ. Bà Nguyễn Thi T5 (vợ ông T) thống nhất ý kiến ông T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng, các bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng thì phải chịu hậu quả pháp lý. Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, về án phí, chi phí tố tụng đương sự chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện T, UBND xã A có văn bản đề nghị vắng mặt, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp di sản thừa kế quyền sử dụng đất và hủy Giấy CNQSDĐ do đó quan hệ pháp luật là “Tranh chấp di sản thừa kế quyền sử dụng đất; Hủy Giấy CNQSDĐ”, theo khoản 5, 9 Điều 26, Điều 34 BLTTDS, khoản 1 Điều 31, Điều 32 Luật tố tụng hành chính, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên có thẩm quyền giải quyết vụ án.
[2] Về diện, hàng thừa kế: Các đương sự thống nhất: Cụ Nguyễn Ngọc Q (sinh năm 1917, chết năm 1998), cụ Trần Thị X (sinh năm 1918, chết năm 2010) sinh được 07 người con, chết nhỏ 02 người còn lại 05 người gồm Nguyễn Tấn P1, Nguyễn Tấn Đ (chết 2017, có vợ Trần Thị S, con tên Nguyễn Tấn T), Nguyễn Tấn L, Nguyễn Thị H (chết 1990, có các con tên Tôn Thất T2, Tôn Thất K, Tôn Thất S2, Tôn Thị P2), Nguyễn Thị Y (chết 2014, có chồng Phan Văn S1, con Phan Thị L1, Phan Thị N, Phan Linh V, Phan Thị Kim C, Phan Thị Kim T1, Phan Linh V1).
[3] Xác định di sản thừa kế: Các đương sự thống nhất nguồn gốc 02 thửa đất tranh chấp là thửa số 324 và thửa 308 tờ bản đồ số 27 (đo đạc năm 2007) tọa lạc tại thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên là do Nhà nước cân đối theo Nghị định 64/CP cho hộ cụ Q, cụ X từ năm 1995, tuy nhiên phía bị đơn (bà S, ông T) cho rằng sau khi cụ Q chết, cụ X giao các thửa đất này cho con trai là Nguyễn Tấn Đ canh tác và Nhà nước đã cân đối lại cho hộ gia đình ông Nguyễn Tấn Đ thể hiện tại Giấy CNQSDĐ số AK 649371 do UBND huyện T cấp ngày 08/12/2009 cho Nguyễn Tấn Đ, Trần Thị S thửa 324, tờ bản đồ số 27, diện tích 890m², hiện nay bà S và con là Nguyễn Tấn T trực tiếp sử dụng, còn thửa 308 diện tích 762m² do Nguyễn Tấn T đứng tên kê khai trong sổ mục kê nhưng hiện nay do vợ chồng ông Nguyễn Tấn L, bà Phạm Thị T3 trực tiếp sử dụng. HĐXX xét thấy: Theo Công văn số 211/UBND ngày 22/11/2024 của UBND huyện T và các tài liệu kèm theo, Biên bản làm việc ngày 12/5/2023 (BL66) của TAND huyện Tuy An với ông Bùi Kim Đ1 – Công chức địa chính UBND xã A, Biên bản làm việc ngày 17/5/2023 (BL67) với ông Nguyễn Văn D – Phó phòng tài nguyên và môi trường huyện T, thấy rằng: Năm 1995, xã A dựa trên bộ giao khoán đất của HTX N2 (vì không có bản đồ đo đạc theo Chỉ thị 229/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ) để thực hiện cân đối đất theo Nghị định 64/CP cho hộ cụ Q, cụ X gồm 02 nhân khẩu gồm 03 thửa đất với tổng diện tích 1029m², tuy ông Q chết năm 1998 nhưng thời điểm cân đối 1995 cụ Q còn sống, xã đã tham mưu cân đối đất cho cụ Q, cụ X nên năm 2004, xã tham mưu cho UBND huyện T cân đối cho hộ cụ X và ngày 21/5/2004, UBND huyện T đã cấp GCNQSDĐ số G 738803 cho hộ cụ Trần Thị X, đất cân đối do chưa có bản đồ địa chính nên chỉ ghi: Thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, diện tích 587m², loại đất 1 lúa; Thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, diện tích 330m², loại đất 1 lúa; Thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, diện tích 112m², loại đất 2 lúa. Quá trình sử dụng đất sau khi cụ Q chết, cụ X già yếu sống cùng vợ chồng ông Nguyễn Tấn L, bà Phạm Thị T3, do không có điều kiện canh tác đất nên cụ X giao đất cho ông Nguyễn Tấn Đ canh tác và đưa lúa cho cụ X. Quá trình canh tác trên 03 thửa đất theo GCN, ông Nguyễn Tấn Đ tự ý kê khai và được nhà nước cấp GCNQSDĐ số AK 649371 cấp ngày 08/12/2009 cho Nguyễn Tấn Đ, Trần Thị S đối với thửa 324 tờ bản đồ số 27 diện tích 890m² (chính là thửa đất có diện tích 587m² trong GCNQSDĐ số G 738803 cấp ngày 21/5/2004 cho cụ X) và con trai ông Đ là Nguyễn Tấn T kê khai thửa 308 diện tích 762m² (chính là thửa đất có diện tích 330m² trong GCNQSDĐ số G 738803 cấp ngày 21/5/2004). UBND huyện T, UBND xã A đã có văn bản xác nhận: theo hồ sơ quản lý đất đai tại UBND xã A (trước đây là xã A) dựa trên Bản đồ Simla đo đạc năm 2007 xác nhận việc cấp GCNQSDĐ cho ông Đ, bà S là do UBND xã xác nhận sai nguồn gốc, dẫn đến cấp GCN không đúng đối tượng sử dụng đất. Căn cứ các tài liệu về quản lý đất đai, hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ ông Đ khai nguồn gốc đất khai hoang là sai nguồn gốc, đồng thời thửa đất theo GCN cấp cho ông Đ là đất đã cấp GCN cho hộ cụ X, nhà nước chưa thu hồi sổ cụ X mà cấp cho Đ là không đúng quy định pháp luật. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn L, xác định thửa đất 324 và 308 là di sản thừa kế của cụ Q, cụ X, hủy GCNQSDĐ số AK 649371 cấp ngày 08/12/2009 cho Nguyễn Tấn Đ, Trần Thị S, chia di sản thừa kế 02 thửa đất số 324, 308 theo pháp luật cho những người thừa kế của cụ Q, cụ X. Đối với GCNQSDĐ số G 738803 cấp ngày 21/5/2004 ngoài 02 thửa đất các bên tranh chấp còn có thửa đất 112m², quá trình giải quyết vụ án, ông L cho rằng chính là thửa 309 diện tích 218m², tại phiên tòa xác định nằm ở vị trí khác, các đương sự không tranh chấp thửa đất này nên không xét, tuy nhiên thửa này vẫn còn nằm trong sổ đỏ của bà X, UBND huyện T trong quá trình quản lý đất đai tại địa phương đã chuyển mục đích sử dụng đất các thửa đất theo GCNQSDĐ cấp cho cụ X từ đất lúa sang đất hàng năm khác trong GCNQSDĐ cấp cho ông Đ, trên sổ mục kê và tờ bản đồ địa chính số 27 đo đạc năm 2007 nhưng không có thủ tục thu hồi GCNQSDĐ số G 738803 cấp ngày 21/5/2004 cấp cho cụ X, đồng thời thời điểm năm 2004 cụ Q đã chết nhưng UBND cấp GCNQSDĐ cho cụ X không có văn bản nhận thừa kế của những người thừa kế của cụ Q cũng không đúng trình tự, thủ tục, HĐXX chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế đối với các thửa đất diện tích 587m² (thửa 324), thửa đất diện tích 330m² (thửa 308) nên cần thiết hủy GCNQSDĐ số G 738803 cấp ngày 21/5/2004 cấp cho cụ X để các đương sự được nhận thừa kế quyền sử dụng đất có quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn L về chia di sản thừa kế đối với 02 thửa đất nêu trên, thấy rằng: Thực tế hiện nay, vợ con ông Đ là bà S, ông T sử dụng thửa 324 tờ bản đồ số 27 diện tích 890m², vợ chồng ông L, bà T3 sử dụng thửa 308 diện tích 762m² (chính là thửa đất có diện tích 330m² trong GCNQSDĐ số G 738803 cấp ngày 21/5/2004) do Nguyễn Tấn T đứng tên kê khai trên sổ mục kê. Theo kết quả đo đạc thực tế thì thửa 308 chỉ có diện tích 417,6m², ông L chấp nhận diện tích thực tế vì bìa ranh đã có sẵn, không xác định được nguyên nhân thiếu đất, thừa đất theo sổ đỏ và theo bản đồ địa chính. Hiện trạng trên 02 thửa đất này ông L và ông T đều trồng cỏ, quá trình giải quyết vụ án, theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, các đương sự không yêu cầu định giá cỏ và hệ thống ống tưới nước đã đầu tư trên đất, đều có ý kiến tự tháo dỡ nếu nhà nước công nhận đất cho ai. Theo kết quả định giá tài sản, đất HNK không định giá thị trường nên thửa 308 diện tích 417,6m² x 40.000đ/m² = 16.704.000đ + thửa 324 diện tích 890m² x 40.000đ/m² = 35.600.000₫ = 52.304.000đ chia 5 kỷ phần mỗi kỷ phần nhận trị giá 10.460.000đ, ông L được nhận 4 kỷ phần = 41.843.200đ. Tại phiên tòa, ông L đồng ý tiếp tục nhận thửa 308 để canh tác và gia đình ông Đ (bà S, ông T) tiếp tục canh tác trên thửa 324 để đảm bảo sự ổn định trong quá trình sử dụng đất trong gia đình, do đó cần chấp nhận yêu cầu của ông L được nhận thửa 308 diện tích 417,6m² (Theo Mảnh trích đo địa chính số: 01-2023 do Công ty TNHH K1 thực hiện ngày 04/01/2023) trị giá 16.704.000đ, người thừa kế của ông Đ là ông T, bà S nhận thửa đất 324, diện tích 890m² (Theo Mảnh trích đo địa chính số: 02-2023 do Công ty TNHH K1 thực hiện ngày 04/01/2023) trị giá 35.600.000₫ nhưng kỷ phần của mình chỉ trị giá 10.460.000đ nên ông T, bà S phải cùng thanh toán thêm cho ông L số tiền 25.140.000₫ (Hai mươi lăm triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng) chênh lệch.
[5] Về chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn L phải chịu số tiền 9.600.000đ, ông Nguyễn Tấn T cùng bà Trần Thị S phải chịu 2.400.000đ, ông L đã nộp tạm ứng 12.000.000đ nên ông T, bà S cùng hoàn lại cho ông L 2.400.000đ.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu tương ứng với giá trị tài sản được nhận thừa kế: Ông Lương nhận di sản có giá trị 41.843.200đ x 5% = 2.092.000đ án phí DSST nhưng ông L được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; bà Trần Thị S, ông Nguyễn Tấn T nhận cùng tài sản trị giá 10.460.000₫ x 5% = 523.000đ án phí DSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 26, 34, 147, 157, 165, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 của Luật tố tụng hành chính;
Áp dụng các Điều 49, 50, 106, 123 Luật đất đai 2003; Điều 79, 167, 169, 106, 188 Luật đất đai 2013;
Các Điều 609, 610, 611, 612, 613, 649, 650, 651, 652, 680 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn L: xác định thửa đất 324 và 308 tờ tờ bản đồ số 27 (đo đạc năm 2007) tọa lạc tại thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Ngọc Q, cụ Trần Thị X; Hủy GCNQSDĐ số AK 649371 cấp ngày 08/12/2009 cho Nguyễn Tấn Đ, Trần Thị S; Hủy GCNQSDĐ số G 738803 cấp ngày 21/5/2004 cho cụ Trần Thị X. Chia di sản thừa kế đối với 02 thửa đất trên, cụ thể:
-
- Ông Nguyễn Tấn L được nhận thửa 308 diện tích 417,6m² (Theo Mảnh trích đo địa chính số: 01-2023 do Công ty TNHH K1 thực hiện ngày 04/01/2023).
-
- Người thừa kế của ông Nguyễn Tấn Đ là bà Trần Thị S cùng ông Nguyễn Tấn T được nhận thửa đất 324, diện tích 890m² (Theo Mảnh trích đo địa chính số: 02-2023 do Công ty TNHH K1 thực hiện ngày 04/01/2023) đồng thời ông T, bà S phải cùng thanh toán thêm cho ông L số tiền 25.140.000₫ (Hai mươi lăm triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng) chênh lệch kỷ phần thừa kế được hưởng.
Các đương sự được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất được nhận thừa kế nêu trên.
[5] Về chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn L phải chịu số tiền 9.600.000đ, ông Nguyễn Tấn T cùng bà Trần Thị S phải chịu 2.400.000đ, ông L đã nộp tạm ứng 12.000.000đ nên ông T, bà S cùng hoàn lại cho ông L 2.400.000đ.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Tấn L được miễn án phí DSST; bà Trần Thị S, ông Nguyễn Tấn T cùng phải chịu 523.000đ án phí DSST.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vũ Ngọc Hà |
10
Bản án số 20/2024/DSST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp di sản thừa kế quyền sử dụng đất; hủy giấy cnqsdđ
- Số bản án: 20/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế quyền sử dụng đất; hủy Giấy CNQSDĐ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất và hủy GCNQSDĐ
